Chiến Lược
Môi Trường: Canh Tân Xanh - Environmental Strategy: Green
Innovations
Trong ṿng 20 năm trở
lại đây, các nhà khoa học đứng trước
nguy cơ của hiệu ứng nhà kính và sự hâm nóng toàn
cầu đă hướng tầm nh́n về những công
nghệ mới với mục đích giảm thiểu
phế thải lỏng, rắn, và đặc biệt
giảm lượng khí carbonic phát thải vào không khí. V́ thế, môn hóa học xanh hiện đang trên đà
phát triển nhanh chóng hiện nay và đă góp phần không
nhỏ vào công cuộc giải quyết vấn nạn trên.
Gần đây nhất, TS
Charles Casey, Chủ tịch Hội Hóa học Hoa Kỳ (ACS)
có gợi ư lên câu hỏi sau đây: Tại sao các công ty hóa
chất và nhà nghiên cứu khoa học cố gắng phát
triển các quy tŕnh sản xuất sản phẩm xanh?. Và câu trả lời không kém phức tạp
là: do sự phát triển của công nghệ, do thị trường
cạnh tranh, do nhân sinh quan của từng công ty, và nhất
là áp lực của xă hội về phát triển bền
vững cho toàn cầu. Hoa Kỳ, một trong những
quốc gia đi đầu đă cổ súy công nghệ hóa
học xanh qua giải thưởng Tổng thống về
những thách thức của Hóa học xanh (Presidential
Green Chemistry Challenge Awards) từ chín năm qua.
Năm 2004, các giải thưởng
trên được phân phát đến những công nghệ
cần cải tiến và luôn là một vấn nạn môi trường
lớn như: công nghệ dược phẩm, giấy,
thuốc tẩy rửa, và công nghệ chất dẽo
(plastic). Các công nghệ vừa kể trên là những thách
thức thường xuyên cho mục tiêu của các nhà khoa
học về hóa học xanh như: công nghệ cải
tiến kỹ thuật để tăng năng suất và
giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Kết quả là từ khi
chương tŕnh bắt đầu đến nay, Cơ
quan Bảo vệ Môi trường HK (USEPA) đă thống kê
được những thành quả tiết giảm được
trong các quy tŕnh sản xuất cải tiến tại Hoa
Kỳ như sau: 210 ngàn tấn chất phế thải,
tiết kiệm được 1,7
tỷ lít nước sạch, và giảm thiểu 77 ngàn
tấn khí carbonic phát thải vào không khí. Đặc biệt
hơn nữa, nếu lấy công ty Pfitzer làm thí dụ, qua
chương tŕnh Hóa học Xanh cho Dược phẩm (Green
Chemistry for Pharma) với mục đích khuyến khích nghiên
cứu các quy tŕnh sạch trên, công ty dược phẩm
Pfizer đă thành công trong việc cải thiện quy tŕnh
sản xuất của một loại thuốc an thần
nổi tiếng Sertraline, có tên thương măi là Zoloft. Quy
tŕnh mới là giảm thiểu các công đoạn ḥa tan và
kết tinh, cộng thêm sự oxid hóa... do đó làm giảm
lượng dung môi xử dụng cho một tấn
thuốc sản xuất là 55.000 gallons. Mức sản
xuất hàng năm ngoài dung môi ra ước tính giảm
thiểu được 440 tấn titanium dioxide, 150 tấn
acid clorhydric 35%, và 100 tấn sút 50%, và quan trọng nhất
là hạn chế một số lượng phế thải
lớn trong sản xuất.
Về phương diện
khoa học thuần túy, GS Charles Eckerk và GS Charles Liotta
thuộc Viện Công nghệ Georgia (Georgia Institute of
Technology) được giải thưởng nghiên cứu
của chương tŕnh trên qua khám phá việc dùng khí carbonic
lỏng ở nhiệt độ và áp suất thấp (350C
và 100 mm Thủy ngân) hoặc hơi carbonic bơm vào các
hợp chất hữu cơ để thay thế các dung môi trong phản
ứng hóa học, đặc biệt dùng trong kỹ
nghệ dược phẩm. Điều
nầy đă giúp cho việc giải quyết một
phần lớn phế thải độc hại hữu cơ
trong kỹ nghệ. Eckeck và Liotta đă
nghiên cứu kỹ thuật nầy trong ṿng 15 năm.
Từ đó đưa đến một khái niệm
mới là các thể lỏng ở điều kiện không
cân bằng (super critical fluides). Khái niệm nầy là
một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật
mới nhất cho thế kỷ 21 áp dụng trong tiến
tŕnh thay đổi cơ chế của một phản
ứng hóa học bằng cách
tạo ra những điều kiện đồng thể
(homogeneous) trong môi trường carbonic kể trên. Cũng trong môi trường nầy, chúng ta có
thể thay đổi nhiệt độ và áp suất để
có được thành phẩm như ư muốn và có năng
suất cao hơn, cũng như giảm thiểu hay ngăn
ngừa hẳn những phó phẩm hay phế thải không
cần thiết. Hay nói một cách khác, nếu việc
áp dụng kỹ thuật nầy trong công nghệ sản
suất hóa chất trừ cỏ dại 2,4,5-T,
chúng ta có thể loại bỏ được phế
phẩm là dioxin, một hóa chất đă gây tranh căi trong
suốt hơn 40 năm qua.
Đứng về phương
diện kinh tế, các công đoạn phản ứng như
ly trích cũ chiếm từ 60 đến 80% chi phí của
một quy tŕnh sản xuất. Trong lúc đó kỹ
thuật dùng khí carbonic ở điều kiện trên để
thay thế các dung môi hữu cơ của phản ứng,
ngoài việc làmtăng năng suất, tinh chế thành
phẩm, làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, và
nhất là hiệu quả kinh tế rất cao.. Trong một tương lai không xa, chắc chắn
kỹ thuật nầy sẽ là nền tảng của
nhiều công nghệ hóa chất trên thế giới và là
một đáp ứng lư tưởng trong tiến tŕnh phát
triển bền vững của toàn cầu.
Một giải thưởng
đặc biệt thứ nh́ dành cho Bristol Myers Squibb qua
việc nghiên cứu điều chế thuốc chống
ung thư có tên là Taxol (paclitaxel) đă được
Viện Quốc gia Ung thư (NCI) nghiên cứu từ năm
1960. Theo quy tŕnh sản xuất hiện tại, muốn điều
chế thuốc trên phải cần đến 40 công đoạn
trong đó có 11 tổng hợp, 7 trích ly, cùng 13 loại dung
môi hữu cơ khác nhau và nhiều hợp chất khác
nữa trong quá tŕnh sản xuất. Trong lúc đó, Bristol
Myers Squibb đă dùng phương pháp vi
sinh là lên men và cô lập thuốc trên bằng nhiễm
sắc kư (gas chromatography) và kết tinh. Trong phương
pháp nầy chỉ cần xử dụng 5 loại và
với số lượng ít hơn nhiều so vơi phương
pháp đang áp dụng hiện tại. Kể từ năm
2002, thuốc Taxol đă được điều chế theo kỹ thuật trên, do đó giá thành
hạ và đi sâu vào đa số người tiêu thụ hơn.
Đă có hàng triệu phụ nữ chữa
trị bằng phương pháp nầy.
Về phương diện
kỹ nghệ giấy, và các loại hóa chất tẩy
rữa, sư khám phá ra diếu tố góp phần vào công
nghệ biến chế cellulose và sản xuất giấy có
hiệu quả hơn. Dung môi xử dụng trong trường
hợp nầy được hạn chế tối đa
cũng như hóa chất tẩy rữa cũng được
giảm rất nhiều.
Trên thế giới,
giấy là một nguồn nguyên liệu có thể được
tái sinh và
dùng lại nhiều lần. Tại Hoa Kỳ 40% lượng
giấy lưu hành trong nước là giấy tái sinh. Do đó
nếu hóa chất dùng trong công nghệ nầy được
hạn chế, th́ số lượng khổng lồ nước
dùng trong các công đoạn biến chế sẽ giảm theo. Từ đó, lượng
phế thải độc hại trong công nghệ nầy
sẽ giảm thiểu quan trọng nhất là chất
dioxin tạo thành trong quy tŕnh sản xuất giấy.
Qua các thí dụ điển
h́nh trên đây, chúng ta có thể h́nh dung chiến lược
môi trường mới qua việc áp dụng hóa học xanh
vào kỹ nghệ là một việc làm hài ḥa phù hợp
với tiến tŕnh toàn cầu hóa đang diễn ra trên
thế giới hiện nay.
Theo định nghĩa
của Nghị tŕnh 21, sự bền vững là quyền
phát triển của mỗi quốc gia cùng tuân thủ theo những tiêu chuẩn giống nhau đă được
đồng thuận trước đây, trong đó nhu
cầu của hiện tại và tương lai phải phù
hợp với những yêu cầu cho phát triển và môi trường.
Qua suy nghĩ trên, vào đầu tháng 2,2005, Hội đồng
Đại học Quốc gia qua Ủy ban Công nghệ và
Khoa học Hóa học (Chemical Sciences & Technologies Committee) đă
tổ chức tại Washington DC ngày hội thảo quy
tụ trên 100 khoa học gia, kỹ sư, và nhiều chuyên
viên hoạch định kế hoạch và chính sách. Mục tiêu của cuộc hội thảo là
nhắm đến hiệu quả của việc phát
triển bến vững của các công ty hóa chất qua hai
chủ đích là hóa học xanh và giảm thiểu giá thành.
Và Ủy ban đă thống
nhất 4 hướng chính cho nghiên cứu trong tương
lai là:
- Đề xướng, cổ động
cùng giáo dục về phát triển bền vững;
- Khai
thác triệt để công nghệ hóa học xanh;
- Khai
triển những công nghệ thay thế các loại năng
lượng từ than đá qua việc xử dụng
chất thải động vật để biến
cải thành năng lượng;
- Các
cuộc hội thảo khoa học sẽ được
dùng như là công cụ để khuyến khích sản
xuất trong hóa học xanh.
Do đó thiết nghĩ các
quốc gia trên thế giới có khả năng đồng
thuận trên quan điểm nầy. Nhưng vấn đề
cần đặt ra nơi đây là tŕnh độ khoa
học kỹ thuật của các quốc gia đang phát
triển vẫn c̣n trong thời kỳ phôi thai;
v́ thế cho nên thật khó cho các quốc gia nầy có
thể khai triển chương tŕnh canh tân xanh đồng
bộ với các quốc gia tiên tiến. Vi
vậy, các quốc gia sau nầy cần phải có nhiệm
vụ giúp đỡ để đầy mạnh công
cuộc toàncầu hóa chung cho thế giới.
Từ những suy nghĩ
tŕnh bày trên đây đă nói lên tính quan trọng của hóa
học xanh trong những ngay sắp đến. Bảo vệ môi trường
là một việc làm rất trong sáng trong công cuộc phát
triển bền vững trong tương lai, ứng hợp
với Nghị tŕnh 21 do LHQ đề ra. Đó là: Việc tăng
trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường, và
tạo dựng thêm phúc lợi xă hội cho người dân.
Thực hiện được
3 điều trên, chúng ta đă làm một cuộc cách
mạng lớn cho toàn cầu.
Mai Thanh Truyết
Hội Khoa học &
Kỹ thuật Việt