Việt
Biến cố tan ră của
Liên Xô đánh dấu sự phá sản của chủ
nghĩa Cọng sản quốc tế, chấm dứt t́nh
trạng đối đầu lưỡng cực giữa
khối Tự do và khối Cọng sản; từ đó đưa
đến sự h́nh thành một khuynh hướng chung
của thế giới, mệnh danh là toàn cầu hóa. Khuynh hướng nầy được xem như
là một sinh lộ tất yếu của các nước đang
phát triển và đặc biệt là các quốc gia đă
một thời đặt ḿnh thuộc khối Cọng
sản quốc tế, nếu muốn tồn tại và phát
triển trong t́nh h́nh mới.
Sự toàn cầu hóa bao
gồm toàn bộ các lĩnh vực văn hóa, xă hội, và được
chú ư nhiều nhất là lĩnh vực kinh tế. Về lĩnh vực sau
cùng nầy, nhu cầu toàn cầu hóa bao gồm sự
hội nhập của các nền kinh tế quốc gia vào
nền kinh tế quốc tế thông qua thương
mại, đầu tư ngoại quốc qua những công
ty quốc gia hay đa quốc gia, lưu lượng
vốn ngắn hạn, lưu lượng công nhân quốc
tế, lưu lượng công nghệ trao đổi, v.v...
Riêng đối với nước
Việt
Đứng về phương
diện phát triển kinh tế và xă hội trong 10 năn đầu
tiên sau 1975, hầu như tất cả mọi người
trong và ngoài nước đều đồng ư rằng
sự thất bại hoàn toàn của một chính sách kinh
tế tập trung. Đây là một giai đoạn đen
tối nhất của lịch sử Việt
Đứng trước
nguy cơ diệt vong kề cận, năm 1986, một chính
sách kinh tế mở được khơi mào dưới
chiêu bài kinh tế thị trường theo định
hướng xă hội chủ nghĩa nửa vời,
người dân bắt đầu được nới
lơng hơn trong ṿng kềm kẹp, nông dân được
cấp quyền xử dụng mănh đất của ḿnh dù
là tạm bợ để tự khai thác và tự cứu
văn đời sống kinh tế của gia đ́nh.
Những năm tiếp theo sau đó, nguy
cơ tuy vẫn c̣n đầy rẫy khắp nơi, t́nh
trạng xă hội và kinh tế chung vẫn c̣n nhiều
gập ghềnh, chập chững trên bước đường
phát triển và hội nhập vào thế giới bên ngoài.
Từ sau ngày giải
phóng cho đến năm 1986, cả nước
vẫn c̣n cùng ôm nhau với những tem phiếu qua câu
sấm truyến vẫn c̣n tồn đọng đến
ngày hôm nay. Đó
là:
- Gạo
vừa 13 kư, suốt tháng cháo thừa, cơm thiếu, quanh
năm no cậy nước;
- Vải
vừa 4 ngh́n ly, suốt ngày quần thiếu, khố
thừa, cả đời ấm nhờ da.
Nhưng măi đến tháng
12 năm 2001, khi Hiệp ước Thương măi hai
chiều giữa Việt Nam và Hoa Kỳ thành h́nh (US-VietNam
Bilateral Trade Agreement), kinh tế Việt Nam tương đối
hồi sinh và có thể nói đây là bước mở đầu
tiện của VN trên tiến tŕnh hội nhập vào Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO).
Cũng cần nói thêm
về những thông tin trao đổi kinh tế hai
chiều giữa VN và HK trong giai đoạn trước đây. Năm 1993, VN hoàn toàn không
xuất cảng hàng hóa vào nội địa HK; ngược
lại, VN nhập cảng 7 triệu Mỹ kim
thiết bị từ HK. Sau ngày 3 tháng 2, 1994, Tổng
thống Clinton, HK đă ra quyết định băi bơ
lịnh cấm vận thương mại cho VN; kể
từ đó, VN bắt đầu tăng dần việc
xuất cảng sang HK lên đến trị giá 50,5 triệu
cho năm nầy.
Bảy năm sau khi
hiệp ước trao đổi hai chiều kư kết,
hàng hóa VN gồm thực phẩm, hàng may mặc, dầu thô,
giày da, sản phẩm gỗ nội thất ồ ạt
vào thị trường HK, và lượng hàng hóa tiếp
tục tăng măi, từ 1 tỷ Mỹ kim năm 2001, lên đến
5,9 tỷ, năm 2005. Ngược lại, HK chỉ
xuất cảng độ 1,2 tỷ vào
VN trong năm 2005. gồm dụng cụ
y khoa, máy móc kỹ thuật và dụng cụ hàng không.
Đây cũng là những
chỉ dấu ban đầu cho VN lần lần thực
hiện tiến tŕnh gia nhập vào Tổ chức Thương
mại Thế giới. Và Việt
Tổ chức Thương
mại Thế giới
Tổ chức Thương
mại Thế giới hay World Trade Organization-WTO, có trụ
sở đặt tại Thụy Sĩ đă được
thành lập chính thức vào ngày 1/1/1995 do các quốc gia thành
viện kư tại thành phố Marrakesh, Marocco. Tính đến
nay, Tổ chức nầy tập hợp được 149
quốc gia thành viên nhắm vào những mục tiêu sau đây:
- Quy
định những căn bản pháp lư làm nền tảng
cho mọi trao đổi thương măi quốc tế;
- Tổ
chức là diễn đàn đàm phán, thỏa thuận, thương
lượng về tất cả mọi dịch vụ thương
mại giữa các quốc gia thành viên.
Cũng từ ngày 1/1/1995, VN
đă nộp đơb xin gia nhập vào
tổ chức trên và trở thành quan sát viện của
tổ chức. Nhóm công tác WTO cũng đă được
thành lập và có nhiệm vụ cứu xét đơn xin gia
nhập của VN.
Tính đến nay, VN đă
trả lời trên 2.600 câu hỏi từ các thành viên, và đă
kết thúc đàm phán song phương với 21 quốc gia.
Đối với HK, văn
kiện chính thức giữa hai bên đă được kư
kết vào ngày 31/5/2006 về những thỏa thuận trên
nguyên tắcvề khả năng tiếp cận thị trường
song phương; từ đó sẽ giúp hai bên tái lập
hàng rào thuế quan cho những mặt hàng kỹ nghệ và
nông phẩm, cùng dịch vụ.
Kết quả là hàng hóa
xuất cảng từ HK vào VN như trang thiết bị
xây dựng, dược phẩm, phi cơ và các bộ
phận rời bảo tŕ sẽ chịu thuế xuất là
15% hay ít hơn. Về dịch vụ, VN cũng đă cam
kết mở cửa một số lănh vực cấm
kỵ từ trước như viễn thông và viễn
thông vệ tinh, lănh vực tài chính, ngân hàng, và năng lượng
cho HK nhúng tay vào.
Một khi đă vào WTO, VN
cần phải tuân thủ những tính chất pháp trị
như: 1- giải quyết tranh chấp; 2- giảm bớt
vai tṛ của mậu dịch quốc doanh; 3- hủy bỏ
những giới hạn nhập cảng của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài qua
quyền thương mại; 4- hủy bỏ những quy
chế kinh tế phi thị trường. Ngược
lại, HK sẽ áp dụng kinh tế phi thị trường
trong các vụ kiện chống phá giá cho đến khi VN ra
khỏi nền kinh tế phi thị trường. Thời gian chuyển tiếp cho chính sách nầy là
12 năm sau khi VN gia nhập vào WTO. Và sau
cùng, VN phải tuân thủ quy tắc và luật bảo
vệ sở hữu trí tuệ.
Để có một khái
niệm về kết quả của việc gia nhập vào
WTO trong những năm vừa qua của các quốc gia thành
viên, một số báo cáo sau đây cho thấy khuynh hướng
cũng như thành quả của WTO ngày càng bị thu hẹp lại. Vào năm 2003, trong kỳ
họp WTO ở Cancun, Ngân hàng Thế giới (WB) đă đưa
ra những số liệu về thương mại toàn
cầu qua dịch vụ trao đổi trên thế giới
là 832 tỷ Mỹ kim, trong lúc đó 539 tỷ nằm trong
các sinh hoạt giữa các quốc gia đang phát triển.
Tuy nhiên, tổng kết năm 2005 cho thấy lợi ích
của WTO giảm xuống c̣n 287 tỷ cho thế giới,
trong đó chỉ c̣n 90 tỷ trao đổi giữa các
quốc gia đang phát triển dù số thành viên của các
quốc gia nầy dự phần vào 90% tổng số thương
mại toàn cầu.
Những khía
cạnh thực tế
Vào ngày 7/11/2006, Việt Nam đă
chính thức được chấp thuận vào Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO), cũng như vào cuối tháng
11/2006 vừa qua, quốc hội Việt Nam đă chính
thức phê chuẩn các điều luật trên. Việt
Vấn đề nơi đây
là cần ghi nhận đứng đắn nội lực
thực tế của VN đứng trước vận
hội mới này, nghĩa là VN trao đổi, xuất
cảng ra thế giới bên ngoài những ǵ? Và
ngược lại phải nhập cảng từ
ngoại quốc những sản phẩm nào? Giải đáp
hai câu hỏi trên, chúng ta có thể h́nh dung được
thế mạnh và yếu của VN trong tương lai. Từ đó, có thể dự phóng được
một viễn ảnh cho đời sống người
dân trong những ngày hậu WTO.
Tính đến ngày hôm nay, VN
đă xuất cảng đi khắp nơi trên thế
giới một số lượng đáng kể về
trọng lượng, nhưng ngược lại thu hồi một số ngoại tệ không đáng
kể so với lượng hàng bán ra. Đó
là nông phẩm, thực phẩm, tôm cá, các mặt hàng gia công
như quần áo, giày da, xẽ gỗ, dầu thô và một
số mặt hàng tiểu thủ công nghệ.
Ngược lại, VN
phải nhập cảng xăng dầu và nguyên vật
liệu, máy móc thiết bị, hóa chất, phân bón, thực
phẩm cao cấp như thịt gà, ḅ....., năng lượng,
viễn thông, ngân hàng..... Đây là những mặt hàng
nhẹ về cân lượng nhưng cần phải chi ra
một số lớn ngoại tệ. Do đó, VN luôn luôn đối
mặt với sự thâm thủng ngân sách cho ngoại thương
từ trước đến nay.
Thêm nữa, những
mặt hàng xuất cảng của VN chỉ để
giải quyết cuộc sống của hàng triệu nông
dân hay công nhân với mức lương tối thiểu-
trong khi đó cuộc sống của nông dân và công nhân VN ngày
càng tệ hại hơn, mặc dù VN cố gắng gia tăng
mức sản xuất hàng năm. Lấy thí dụ về
ngành may mặc hiện tại. Một công nhân Việt Nam
làm việc 12 giờ/ngày, sáu ngày/tuần lănh được
từ 600 đến 800 ngàn Đồng VN/tháng, tương đương
37 đến 50 Mỹ kim. Trong lúc đó, một thợ may
Việt
Tại thị trường
nội địa, hiện tại VN đang làm chủ v́
lợi thế sân nhà, và một số ngành nghề c̣n độc
quyền và không cho người ngoại quốc tham dự. Do đó, mức cạnh
tranh chưa hề được đặt ra, và nếu
có, chỉ là những cạnh tranh giữa những nhà kinh
doanh trong nước mà thôi.
Một khi cánh cửa WTO
mở toang, VN sẽ không c̣n lư do nào để cấm đoán
ngoại quốc tham gia trực tiếp vào thị trường
nội địa của VN. Từ đó,
mức cạnh tranh sẽ quyết liệt hơn và chưa
chi thua thiệt có thể chắc chắn về phần
doanh thương VN qua sự chênh lệch về nguồn
vốn, kỹ thuật, cung cách khuyến măi, và thị
hiếu của người tiêu dùng VN.
Xin đan cử một thí
dụ điển h́nh qua h́nh thức thương mại đơn
giản nhất là hệ thống siêu thị: Siêu
thị Walmart ( Hoa Kỳ) có mức doanh
thu gấp 5-6 lần tổng sản lượng của VN,
có thể tiêu diệt các siêu thị nội địa trong
cung cách thu mua với giá rẽ hơn v́ họ có thể
chấp nhận không lời, hoặc lỗ trong thời
gian đầu v́ có nhiều tiền vốn. Thêm
nữa, họ có khả năng nhập thực phẩm và
hàng hóa từ ngoại quốc vào- điều trên đâøy
càng nguy hiểm hơn v́ nó có thể giết chết
nhiều dịch vụ chăn nuôi và trồng tỉa
của người dân. Một lợi thế nữa
của các siêu thị ngoại quốc là dịch vụ
thanh toán thường chỉ giải quyết sau 90 ngày
nhận hàng, chính điều này khiến cho những nhà cung
cấp VN sẽ không c̣n khả năng tài chính để
trả nợ cho ngân hàng sau mỗi thời vụ.
Trước mắt, chúng ta
thấy rơ những kỹ nghệ của VN liệt kê sau đây
đang đi dần vào chỗ bế tắc
:
- Kỹ
nghệ đường hiện nay hoàn toàn bị phá
sản v́ không cạnh tranh được so với đường
Trung Quốc và Thái Lan có phẩm chất
tốt hơn và giá rẽ hơn. Việc này kéo theo sự bế tắc của nông dân
trồng mía.
- Chăn
nuôi gia súc ở VN cũng đang đứng trước cơn
phá sản do kỹ thuật chăn nuôi c̣n nhiều
khiếm khuyết. Từ đó, việc nhập cảng
cánh và đùi gà Mỹ hiện tại là một dịch
vụ đem nhiều lợi nhuận lớn lao. V́ cánh và đùi gà Mỹ giá rất rẽ
$0.2/bls ( v́ người Mỹ không thích ăn)
, khi nhập vào VN có thể bán ra $1,5/kg
- Các
kỹ nghệ đơn giản khác như xe
đạp, dụng cụ làm bếp, trang trí nội
thất sẽ không c̣n khả năng cạnh tranh với
hàng TQ nếu chưa nói đến các nhà sản xuất
lớn như ở HK, Pháp, Ư..... Những
mặt hàng rất bắt mắt và được người
VN ưa chuộng từ lâu. Chính tâm lư ưa chuộng
hàng ngoại quốc của người VN sẽ giết
chết công kỹ nghệ VN khi VN gia nhập vào cuộc chơi
chung. Và mặt trái của
WTO có thể biến VN thành một thị trường tiêu
thụ của quốc tế hơn là một thị trường
sản xuất.
Một số rào cản VN đang
đối mặt trước ngưỡng cửa WTO được
tiếp tục tŕnh bày sau đây cũng là những gợi
ư mà VN cần lưu tâm. Đó là những cản
ngại của khu vực quốc doanh, ngành ngân hàng, khả
năng vận chuyễn đường biển, ngành
viển thông di động và một số phản ứng
tâm lư của người dân VN trước tiến tŕnh toàn
cầu hóa.
Cản ngại
của khu vực quốc doanh
Một trong nhiều yêu
cầu để VN gia nhập vào WTO là VN phải minh
bạch trong việc kiểm toán chi thu
của quốc gia. Do đó, lần đầu tiên trong
lịch sử đảng, CSVN đă đưa ra bản
báo cáo từng phần
ngân sách nhà nước năm 2005. Theo đó, riêng
trong lănh vực quốc doanh, 19 tổng công ty và ngân hàng
quốc doanh trên 4.447 quốc doanh toàn quốc, cho thấy
kết quả kiểm toán hoàn toàn đưa đến
việc thua lỗ và công ty quốc doanh đă làm kinh tế
theo một chính sách phi kinh
tế. Sau đây là vài con số thua lỗ cũa các công ty
quốc doanh trong năm 2005: Ngành dệt may lỗ 328 tỷ
Đồng ; ngành giấy lỗ 199
tỷ Đồng ; ngành lương thực lỗ 183
tỷ Đồng (1 tỷ Đồng tương đương
60.000 Mỹ kim). Tổng số nợ của 16 doanh
nghiệp các ngành kễ trên là 47,000 tỷ đồng, tương
đương với 80% tổng tài sản của các công
ty. Do đó, những công ty trên hoàn toàn không c̣n khả năng
thanh toán phần nợ và lỗ lă.
Hiện tại, con số
các công ty quốc doanh biến thành cổ phần hóa
(tức tư nhân hóa)
là 3.830. Trong đó vốn nhà nước là 49%,
công nhân viên, cán bộ trong doanh nghiệp đóng góp 26%, và
vốn tư nhân đầu tư ngoài doanh nghiệp 25%. Với tỷ lệ và thành phần cổ đông
như trên, th́ trách nhiệm hay linh hồn của công ty
vẫn là nhà nước hay quốc doanh mà thôi. Và đối
với việc kinh doanh lỗ lă trên, nhà nước VN
lại phải gánh chịu hay Đất nước VN qua hơn
84 triệu dân, phải cật lực lao động để
trả nợ? Và một khi đă giải tư theo cung cách
vừa kể, công ty tư doanh cổ phần sẽ
thuộc về ai? và ai sẽ chịu
trách nhiệm? Do đó, qua việc tư nhân hóa để
thỏa măn yêu cầu cũa những luật định
WTO, vô h́nh chung, VN đă biến các công ty
quốc doanh thành một loại công ty dưới cơ
chế bao cấp khác.
Ngoài ra, đừng quên
rằng, đă từ hơn 30 năm qua ở VN, các cơ
chế làm kinh tế bao cấp đă đưa đất
nước vào ngơ cụt. Có thể nói nhận định gần đây
của ông Đào Xuân Sâm, ban nghiên cứu của Thủ tướng
hiện tại, đă nói lên một cách rốt ráo vấn đề
nầy: Trong hơn 10 năm
qua, song song với vịệc tư doanh đổi
mới và tăng trưởng thành công, khu vực kinh
tế nhà nước trên thực tế đă trở
lại cơ chế cũ tập trung quan liêu - bao cấp,
có khác chăng là trong nền kinh tế thị trường bao
cấp hiện vật chuyển thành bao cấp tài chính. Và cơ chế
bao cấp này cũng chính là mọt h́nh thức của cơ
chế xin - cho, đă trở thành miếng đất màu
mỡ cho nạn tham nhũng lộng hành trong khu vực nhà
nước, từ đơn vị kinh tế cơ sở
đến các cấp cao nhất của chính quyền.
Như vậy, VN làm thế
nào và bằng cách nào để thực hiện được
lời T.T Nguyễn tấn Dũng mới vừa tuyên
bố là trong ṿng 5 năm tới, VN bảo đảm
cổ phần hóa 100% doanh nghiệp quốc doanh?
Cản ngại
của ngành ngân hàng
Cũng theo quy định
của WTO, VN phải mở cửa ngân hàng, chấp
nhận dịch vụ ngân hàng
ngoại quốc trong giai đoạn chuyển
tiếp (năm năm sau khi gia nhập) có thể đầu
tư tối đa 30%
tổng số vốn của
ngân hàng. Một khi VN chính thức vào cuộc, tư nhân nào
có thể mua cổ phần c̣n lại (tức 70%) của
một ngân hàng ngoại quốc, vốn dĩ có nguồn
vốn lớn và bằng hệ thống tiền tệ cứng (hard
currency), trong lúc đó tư nhân, hay tập thể tư nhân
VN chỉ có khả năng đóng góp bằng những
số vốn nhỏ và thế chấp, cũng như
chuyển hóa cơ sở vật chất thành tiền.
Từ đó, dù công ty ngoại quốc không chiếm đa
số tuyệt đối, nhưng vẫn có khả năng
khuynh đảo thị trường bằng những
thủ thuật kinh tế tư bản, và VN sẽ
chịu một sức ép không nhỏ về vấn nạn
này.
Trở lại các Công ty ngân
hàng VN, một trong những lư do các doanh nghiệp quốc
doanh thua lỗ mà vẫn tồn tại cho đến ngày
hôm nay, là việc nhà nước tiếp tục bơm
tiền bù lổ thông qua các ngân hàng quốc doanh
. Hay nói cách khác, các ngân hàng phải chịu sức ép
từ nhà nước, bị bắt buộc tiếp
tục cho công ty quốc doanh vay căn cứ theo
chủ trương chính trị hơn là căn cứ theo
t́nh trạng kinh tế.Và sau cùng, ngân hàng được nhà
nước tái cấp thêm những ngân khoản bổ sung. Đó là trường hợp của bốn ngành
Ngân hàng Công thương, Ngân hàng ngoại thương, Ngân
hàng Đầu tư & Phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp
& Phát triển. Do đo,ù việc
cổ phần hóa ngân hàng quốc doanh hoàn toàn bế
tắc, và việc chuyển doanh nghiệp quốc doanh sang
chế độ hoạt động của một công ty
trách nhiệm hữu hạn là một việc làm không tưởng,
ít ra trong những năm sắp tới.
Cản ngại
về khả năng chuyễn vận hàng hóa
Việc gia nhập vào WTO đ̣i
hỏi quốc gia thành viên phải có tiềm lực về
chuyễn vận hàng hóa hai chiều. VN đă
chuẫn bị vấn đề này như thế nào?
Các thông tin dưới đây tương đối
đầy đủ để mô tả t́nh trạng
vận chuyển đường biển của VN.
Chỉ bốn ngày sau khi được
băi bỏ cấm vận năm 1994, công ty chuyễn vận hàng hóa APL,
Hoa kỳ đă bắt đầu hoạt động
trở lại cho các tuyến đường Mỹ -
Việt
Trong khi đó, t́nh trạng
vận tải đường biển của VN hoàn toàn
không đáp ứng nhu cầu vận chuyễn viễn liên
này. Theo
thống kê, VN có trên 1000 tàu với tổng trọng tải
khoảng 3,5 triệu tấn, trong đó chỉ có hơn 300
tàu hoạt động trên các tuyến đường
quốc tế trong khu vực. Các tàu vận
chuyển VN có trọng tải dưới 20,000 tấn, cho
nên không có khả năng giải quyết mức trao đổi
hàng hóa đường biển. Và
bất lợi hơn nữa là giá thành vận chuyển cao
và ṿng xoay đi - về không đạt hiệu quả kinh
tế.
Theo thống kê 2005, đội
tàu VN chỉ chiếm 7% số tấn trọng tải hàng
hóa 2 chiều mà thôi. Trong lúc đó những nước nhỏ
láng giềng như
Những thông tin trên cho
thấy rằng VN c̣n phải đối mặt với
nhiều sức ép sau khi gia nhập vào WTO, và nếu không có
kế hoạch tạo dựng một lực lượng
tàu với trọng tải lớn hơn, huấn luyện
nhân viên quản trị chuyễn vận, cùng điều
chỉnh và canh tân hệ thống quản lư điều
hành, th́ cuộc chạy đua cạnh tranh với quốc
tế sẽ thấy VN ở thứ hạng thấp
nhất.
Cản ngại
của ngành viễn thông và điện thoại di động
Đây là một ngành tương
đối mới ở VN mà trong những năm gần đây
mức tăng trưởng của việc xử dụng điện
thoại di động tăng từ 60 đến 70% hàng năm.
Tính đến 2005, tổng số điện thoại di động
thuê bao ở cả nước đạt được
12 triệu . Chính v́ lư do đó, các
hảng điện thoại ngoại quốc như Motorola,
Nokia, Siemens, Ericsson, Telenor và Lucient Technologies đă khai thác và
ráo riết cung cấp dịch vụ ở VN. Trong lúc đó,
VN chỉ hiện diện qua năm công ty quốc doanh
mạng di động như Vina phone, Mobifone, Viettel mobile,
S-fone, E-mobile đang hoạt động, và một công ty
mới sắp ra mắt là Hanoi Telecom.
Đứng trước
sự xâm nhập của các đại công ty ngoại
quốc, từ tháng 1 năm 2006 vừa qua, các công ty VN đồng
loạt hạ giá cước, do đó cước viễn
thông của VN giảm dần và đang ở mức giá
trung b́nh tại ĐNA, không c̣n đứng đầu như
cách đây năm năm. VN cũng đă
dự trù vào 2008 sẽ phóng vệ tinh VINASAT, từ đó
sẽ tạo cơ hội cạnh tranh nhiều hơn
với các công ty nước ngoài. Và VN cũng dự
trù cổ phần hóa (tư nhân hóa) các công ty trên để có
thể hội nhập vào thị trường chứng
khoán tự do.
Nhờ vào những lợi điểm
trên sân nhà, VN đă đẩy mạnh chương tŕnh
viễn thông di động, tuy nhiên với nguồn vốn
không đủ lớn, sau khi hội nhập cuộc chơi
WTO, các công ty ngoại quốc có thể khai thác sức
mạnh nguồn vốn để thôn tính các công ty VN qua các
điều kiện thuận lợi trong thị trường
VN, mặc dù trong giai đoạn chuyển tiếp, các công
ty nước ngoài chỉ được đóng góp vốn
đến 49% và cũng chỉ được liên doanh
với đối tác VN đă được cấp
giấy phép.
Hơn nữa, ngoài khả
năng nguồn vốn, công ty ngoại quốc c̣n ở
thế mạnh về công nghệ sản xuất và cung cách
khuyến măi theo cung cách tư bản làm
cho công ty VN khó có khả năng đối đầu ở
mặt trận nầy. Tuy nhiên, VN cũng có thể dùng
thời gian c̣n đặc ân 12 năm để làm rào cản hạn
chế bớt sự xâm nhập của các công ty viễn
thông ngoại quốc vào VN.
Cũng cần lưu ư là,
hiện tại VN chú trọng nhiều đến viễn
thông di động, nhưng không phát triển viễn thông cố
định, tức là điện thoại dùng hệ
thống dây cáp quang để có thể liên lạc và thông
tin khi có biến động xảy ra như chiến tranh
hay áp lực của thế giới tây phương. V́ c̣n
lệ thuộc vào ngoại quốc, VN chưa chủ động
được việc điều hành vệ tinh viễn
thông, cho nên viễn thông di động VN có thể bị
gián đoạn, v́ các công ty cho thuê bao vệ tinh viễn
thông có thể cắt đứt hợp đồng trước
sức ép của quốc tế(!) để gây khó khăn
cho VN.
Cản ngại
do tâm lư dân tộc trước tiến tŕnh toàn cầu hóa
T.S Branco Milanovic, kinh tế
gia của Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra nhận định
cần suy gẫm. Đó là Toàn cầu hóa đă làm tăng thêm sự
bất b́nh đẳng giữa công dân của những nước
giàu nhất cũng như giữa các quốc gia đang phát
triển. Lư do làm ông đưa ra nhận định
trên là những phản ứng trái ngược từ phía
các quốc gia kỹ nghệ và những nước đang
phát triển đối diện với sự phất
triển của ẤnĐộ và Trung Quốc.
Đó là:
- Các
cường quốc trong WTO khó chịu trước
nhũng bước tiến của TQ và AĐ, dù họ
cũng thực hiện cùng một chiến lược toàn
cầu hóa do các cường quốc khơi mào.
- TQ
và AĐ hiện có khả năng cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu, nhưng chỉ có một
phần nhỏ dân cư của họ có cuộc sống
phồn vinh. Sự bất b́nh đẳng ngày
càng tăng giữa dân thành thi và nông thôn, giữa miền
duyên hải và nội địa ở Trung Quốc;
những bất ổn chính trị cũng có thể tự đó
mà có.
Tại VN, sau hơn 20 năm
mở cửa phát triển, và sau 10 năm mức tăng trưởng
đạt chỉ tiêu từ 7% trở lên, VN phải đối
mặt với t́nh trạng môi trường hầu như
bế tắc qua việc tận dụng nguồn tài nguyên đất
đai trong phát triển nông nghiệp, chăn nuôi và
trồng trọt.
Việc phát triển và
xuất cảng hàng năm 5 triệu tấn gạo, thu
hồi 1,5 tỷ Mỹ kim, cũng như việc xuất
cảng hải sản thu hồi trên 5 tỷ, có đem
lại sự phồn vinh hay cải thiện cuộc
sống của người dân ĐBSCL hay không? Nh́n vào mức di dân từ vùng này
vào các thành phố lớn, nh́n vào tệ trạng học sinh
bơ học hàng loạt trong những năm gần đây, nh́n vào việc
chấp nhận làm dâu người ngoại
quốc của các thiếu nữ miền Tây, nh́n vào
tất cả những h́nh thái tệ hại nhất trong
việc buôn người, bán trẻ con... chúng ta cũng đă
có thể h́nh dung câu trả lời.
Thêm nữa, việc khai thác
quá độ nguồn đất ở VN sẽ đưa đến
mhững thảm họa không xa. LHQ mới vừa cảnh giác, nếu
VN tiếp tục khai thác như những năm vừa qua,
th́ trong ṿng 10 năm nữa sẽ có 4 triệu mẫu đất
bị sa mạc hóa.
Đây cũng là nguyên nhân
dự báo trước khiến cho tâm lư người dân
ở những vùng nông nghiệp, vùng sâu và xa càng thêm
tuyệt vọng và ngày càng đánh mất ḷng tự
trọng để làm bất cứ việc ǵ chỉ v́
kế mưu sinh. Chính họ đă xem nhẹ số
phận của chính ḿnh và không c̣n niềm tin vào chính sách
của nhà nước nữa. Tâm lư trên đă tạo
ra một thái độ bất cần đời, bất
hợp tác, hay nguy hiểm hơn nữa, là có thể
tạo ra những bất ổn xă hội v́ cơm áo. Từ đó có thể đưa đến
một bất ổn chính trị nếu có một sự khơi
mào trong tầng lớp bần cùng này. Đây
cũng là một cản ngại mà VN cần phải lưu
tâm.
Thay lời
kết
Sự phát triển xă
hội của một quốc gia được đánh giá
là bền vững khi tầng lớp trung lưu chiếm đa
số như ở các quốc gia Tây Âu và Hoa Kỳ. Và chính
tầng lớp trung lưu nầy là tác nhân điều
tiết mọi biến động kinh tế của
quốc gia. Trong trường hợp VN, mặc dù mức tăng
trưởng có đều nhưng đồng thời
khoảng cách giàu nghèo cũng gia tăng, và trong t́nh trạng
hiện tại, tầng lớp trung lưu chỉ chiếm
theo ước tính độ 30% chưa đủ để
làm chất đệm cho xă hội. Chính hai
yếu tố nầy nói lên cung cách phát triển kinh tế
của VN là chưa bền vững được.
Đồng thời với
việc gia nhập vào ngưỡng cửa WTO, VN đă lên
tiếng báo động là có thể có 600 ngàn công nhân ngành
dệt may, 300 ngàn công nhân ngành giầy da, 400
ngàn nông dân chăn nuôi thủy sản có nguy cơ bị
mất việc v́ cạnh tranh. Vấn đề được
đặt ra nơi đây không phải là những con
số dương tính hay âm tính. Nhưng la,ø
việc VN cần soi chiếu vào t́nh trạng hiện
tại của quốc gia để hoạch định hướng
hội nhập thích nghi với tiến tŕnh toàn cầu hóa
màtrong đó việc gia nhập vào WTO chỉ là một bước
trong tiến tŕnh trên.
Qua những gợi ư về
những cản ngại căn bản trên, việc gia
nhập vào WTO của VN không phải là một yếu
tố đ̣n bẩy chủ yếu tạo nên tăng trưởng
kinh tế quốc gia. Điều
cốt lơi là VN cần phải chuyển đổi năo
trạng, xác định rơ chính mức tăng trưởng
kinh tế quốc gia
mới có thể tạo điều kiện
thuận lợi cho xây dựng và thúc đẩy quá tŕnh hội nhập của VN để
được thành công hơn. Đây mới đúng
là mục tiêu tối hậu của việc hội nhập
vào cuộc chơi của toàn cầu.
Muốn đạt mục
tiêu, VN cần phải phát triển lành mạnh và trong sáng
trong quản lư, nghĩa là tạo ra một xă hội pháp
trị, quản lư bằng luật định của
quốc hội chứ không bằng nghị quyết đến
từ bất cứ nhân vật cao cấp nào trong đảng.
VN cần phải b́nh đẳng và công bằng trong mọi
quyết định về nhân sự, đặc biệt
là nhân sự trong vấn đề quản lư kinh tế và
kế hoạch, khuyến khích tư nhân đầu tư
nguồn vốn và chất xám vào công cuộc phát triển
quốc gia chung. Đặc biệt là
cần phải chấm dứt chính sách Hồng hơn
Chuyên, v́ đây mới đích thực là một cản
ngại lớn nhất cho mọi tiến bộ của đất
nước..
Làm được như
thế, VN sẽ giảm bớt gánh nặng phá sản
của các công ty quốc doanh, kéo theo
mức thâm thủng của ngân hàng qua những món nợ xấu.
Hai yếu tố sau nầy là nguyên nhân chính
của t́nh trạng tham nhũng trong nước.
Chương tŕnh Phát
triển LHQ (UNDP) đă nhận định rằng, qua tám năm
thi hành quy chế dân chủ cơ sở, VN vẫn không
thực hiện được lời hứa một cách
nghiêm chỉnh mà bị nhiễm bởi chủ nghĩa h́nh
thức và môi trường dân chủ của VN là một môi
trường bất thường v́ chế độ độc
đảng.
Suy gẫm lại đúc
kết của Chương tŕnh Phát triển LHQ, chúng ta có
thể thấy được những nguyên do của
sự tŕ trệ trong phát triển Việt Nam từ bây
giờ để từ đó, hy vọng có những
chuyển đổi tích cực hơn trên đường
áp dụng các quy định của Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO) trong tương lai.
Mai Thanh Truyết
Tết Đinh Hợi - 2007