HIỆN
TƯỢNG HÂM NÓNG TOÀN CẦU: KHOA HỌC HAY CHÁNH TRỊ?
Nguyễn
Minh Quang
Tháng
2 Năm 2008

Lần
đầu tiên trong lịch sử, băng tuyết xuất
hiện ở Cao Bằng, Việt
(Ảnh:
Vietnamnet, chụp ngày 2/2/2008)
PHẦN
MỞ ĐẦU
Hiện
tượng hâm nóng toàn cầu (global warming) đă
được biết và đề cập đến từ nhiều thập niên
trước, nhưng có lẽ chưa bao giờ nó lại “ồn
ào” như trong hai năm vừa qua, sau khi cuốn phim tài
liệu Sự thật Mích ḷng (An
Inconvenient Truth), do cựu Phó tổng thống Hoa Kỳ (PTT)
Al Gore thủ vai chánh, được tŕnh chiếu tại các
rạp chiếu bóng ở New York và Los Angeles cùng lúc với
việc phát hành quyển sách Sự
thật Mích ḷng, Khủng hoảng Hâm nóng Toàn cầu (An
Inconvenient Truth, The Crisis of Global
Warming) trong tháng 5 và 6 năm 2006.
Nó càng ồn ào
khi Sự thật Mích ḷng
đoạt giải phim tài liệu hay nhất trong năm
2007 của American Academy Awards (Oscar) [1] và một số
giải thưởng khác, trong đó có Founders Award của International
Emmy Awards [2].

Phim tài liệu Sự
thật Mích ḷng
Nhưng ồn
ào nhất có lẽ là việc PTT Al Gore, cùng với Nhóm Liên
chánh phủ về Thay đổi Khí hậu (Intergovernmental
Panel on Climate Change (IPCC)), được trao giải Ḥa b́nh
Nobel năm 2007 [3].

PTT Al Gore và Chủ tịch IPCC
Rajendra Pachauri
nhận giải Nobel (Ảnh: www.euronews.net)
Có lẽ v́
sự ồn ào đó, cộng với lời tuyên bố
của PTT Al Gore: “Nước
tôi, Hoa Kỳ, có trách nhiệm lớn lao trong việc
cản trở bước tiến ở Bali” [4], mà sau
cùng Hoa Kỳ đă đồng ư lộ đồ (road map)
được đưa ra tại Hội nghị Liên
Hiệp Quốc (LHQ) về Thay đổi Khí hậu 2007 (United
Nations Climate Change Conference 2007), được tổ
chức tại Bali, Nam Dương (Indonesia) từ ngày 3
đến 14 tháng 12 năm 2007 [5].

Hội nghị LHQ về Thay
đổi Khí hậu 2007 tại
Sự ồn
ào đó dường như đă lấn át nhiều
tiếng nói có quan điểm khác biệt với những
ǵ được cựu PTT Al Gore và IPCC cổ xúy: carbon
dioxide (CO2) do con người phóng thích vào khí
quyển là nguyên nhân chính của hiện tượng hâm nóng
toàn cầu, cho nên, các quốc gia đă phát triển phải
cắt giảm việc phóng thích CO2 để
cứu nguy trái đất!
Thượng nghị sĩ (TNS) James Inhofe của
tiểu bang Oklahoma đặt nghi vấn về tính khoa
học và mức độ chính xác của dữ kiện trong
cuốn phim của PTT Al Gore và phúc tŕnh của IPCC cũng
như tính thiên vị của giới truyền thông khi loan
báo tin tức về hâm nóng toàn cầu [6,7]. Các ông Christopher Monckton, nguyên Cố
vấn về chánh sách của Thủ tướng Anh Margaret
Thatcher; Dennis Avery, Giám đốc Trung tâm về Vấn
đề Thực phẩm Toàn cầu của Viện Hudson
ở Washington D.C.; Christopher Horner, Học giả của
Viện Cạnh tranh Thương măi ở Washington D.C.; và Steven
Milloy, Sáng lập viên của JunkScience.com đă đạt
lời mời đến PTT Al Gore để tranh luận
công khai về hiện tượng hâm nóng toàn cầu [8-10],
nhưng các buổi tranh luận nầy có lẽ sẽ không
bao giờ xảy ra v́ PTT Al Gore đă tuyên bố: “Không c̣n ǵ để tranh luận
(The debate is over)” [11].

Trong vụ
kiện để xem xét phim Sự
thật Mích ḷng có phải là một tài liệu thích
hợp cho việc giáo dục 3 triệu học sinh tiểu
học ở Anh về thay đổi khí hậu hay không,
Chánh án Ṭa án tối cao Micheal Burton ở London kết
luận rằng có 9 điểm (statements) trong phim không
được biện minh bằng dữ kiện khoa
học chân chính hiện đại và phim chỉ
được chiếu nếu học sinh được
giải thích về những sai sót nầy [12]. Tiến sĩ (TS) Bjorn Lomborg, tác
giả của quyển sách nổi tiếng trên thế
giới Chuyên viên Môi
trường Hoài nghi (The Skeptical Environmentalist), cho
rằng: “Nếu những
đề nghị của PTT Al Gore được thực
hiện, gần như chắc chắn, chúng ta sẽ
chọn những chánh sách rất tồi tệ để
giải quyết những vấn đề mà chúng ta quan
tâm” [13]. Đối thủ
“nặng kư” nhất của phim Sự
thật Mích ḷng có lẽ là phim Đại bịp Hâm nóng Toàn cầu (The Great Global
Warming Swindle), cũng là một phim tài liệu, do nhà sản
xuất phim truyền h́nh Martin Durkin ở Anh thực
hiện để phản bác quan điểm cho rằng con
người là nguyên nhân chánh của hiện tượng hâm
nóng toàn cầu [14]. Phim
được tŕnh chiếu lần đầu tiên vào ngày 8
tháng 3 năm 2007 trên Băng tần 4.
Như vậy,
hâm nóng toàn cầu có phải là một hiện tượng
đang thật sự xảy ra hay chỉ là một màn
đại bịp để phục vụ cho mưu
đồ riêng tư? Bài
viết nầy nhằm mục đích t́m hiểu thêm chi
tiết của vấn đề với hy vọng giúp cho
người đọc t́m ra được câu trả
lời trung thực và khách quan và nhận ra được
đâu là giải pháp có hiệu quả cao nhất về
kỹ thuật lẫn kinh tế trong việc đối
phó với những vấn đề do hiện
tượng hâm nóng toàn cầu gây ra, nếu có.
VÀI
NÉT VỀ HIỆN TƯỢNG “HÂM NÓNG TOÀN CẦU”
Lúc ban
đầu, hâm nóng toàn cầu được dùng để
chỉ một hiện tượng khí hậu, qua đó,
nhiệt độ của khí quyển có khuynh hướng tăng
dần lên sau khi trái đất trải qua “thời tiểu
băng giá” (little ice age) từ cuối thế kỷ 14 cho
đến đầu thế kỷ 19. Nhưng măi đến năm 1824,
hiện tượng nầy mới được nhà toán
học Pháp Jean Baptiste Joseph Fourier khám phá và giải thích. Ông cho rằng khí quyển trái
đất ngăn chận bức xạ mặt trời
(solar radiation) rồi phản chiếu trở lại trái
đất. Đến cuối
thế kỷ 19, lư thuyết của Fourier được
gọi là “ảnh hưởng nhà kính” (greenhouse effect) khi
Svante Arrhenius, một khoa học gia được trao
giải Nobel, dùng danh từ nầy để giải thích
v́ sao CO2 ngăn chận nhiệt trong khí quyển
trái đất và kết luận rằng ảnh
hưởng nhà kính là nguyên nhân khiến cho các thời
kỳ băng giá chấm dứt.
Nhưng lư thuyết Arrhenius đă bị nhiều khoa
học gia bác bỏ trong thập niên 1960, sau khi nhà vật lư
địa cầu Milutin Milankovitch liên kết việc thay
đổi khí hậu với sự thay đổi quỹ
đạo của trái đất.

Ảnh hưởng nhà kính
(Nguồn: www.defra.gov.uk)
Vào thập niên
1950, khoa học gia tài tử (amateur scientist) G.S. Callendar
khuyến cáo rằng ảnh hưởng nhà kính có thật
và đang tác động mạnh mẽ lên khí quyển trái
đất. Khuyến cáo
của ông, được gọi là “ảnh hưởng
Callendar” (Callendar effect), thúc đẩy việc nghiên cứu
về hâm nóng toàn cầu. Trong
nhiều thập niên sau đó, khoa học gia thế
giới đă t́m cách đo đạc khí hậu trái
đất chính xác hơn và thiết lập nhiều mô h́nh
toán (mathematical models) để phân tích nhiệt độ
toàn cầu.

Ảnh hưởng của khí nhà kính trong khí quyển
Những
nỗ lực nầy khiến cho nhiều người tin
rằng các hoạt động của con người có
ảnh hưởng mạnh mẽ lên môi trường,
nhất là sau khi các nghiên cứu khoa học tiên đoán
rằng gia tăng việc phóng thích CO2, do gia
tăng việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch
(fossil fuels), có khả năng làm bùng nổ hiện
tượng hâm nóng toàn cầu [15].
Và kể từ đó, “hâm nóng toàn cầu” đồng
nghĩa với “hâm nóng toàn cầu do con người gây ra.”
Măi đến
năm 1979, nỗ lực quốc tế nhằm đối
phó với hiện tượng hâm nóng toàn cầu mới thực
sự bắt đầu qua Hội nghị Khí hậu
Thế giới (World Climate Conference) do Tổ chức Khí
tượng Thế giới (World Meteorological Organization (WMO))
tổ chức. Hội
nghị kêu gọi “hợp tác toàn cầu trong việc t́m
hiểu xu hướng khí hậu toàn cầu trong
tương lai để hoạch định việc phát
triển xă hội loài người.”
Đến năm
1985, một hội nghị hỗn hợp giữa WMO, Chương
tŕnh Môi trường LHQ (United Nations Environmental Programme (UNEP)),
và Hội đồng Khoa học Quốc tế (International
Council of Science (ICSU)) với chủ đề “Lượng
định Vai tṛ của CO2 và những Khí nhà kính
(greenhouse gases) khác trong việc Biến đổi Khí
hậu và Ảnh hưởng Liên hệ” được
tổ chức tại Villach, Áo (Austria). Hội nghị kết luận
rằng: “V́ khí nhà kính càng ngày
càng gia tăng, nhiệt độ trung b́nh toàn cầu
chắc sẽ gia tăng trong 50 năm đầu của thế
kỷ sắp tới (thế kỷ 21) ở mức
độ cao nhất trong lịch sử nhân loại.” Hội nghị cũng kết
luận rằng dữ kiện khí hậu trong quá khứ có
thể không c̣n thích hợp cho những dự án dài hạn
v́ khí hậu toàn cầu sẽ nóng hơn, rằng thay
đổi khí hậu và mực nước biển dâng cao
có liên quan chặt chẽ đến các vấn đề
môi trường quan trọng khác, rằng sự hâm nóng ở
một vài nơi th́ không thể tránh khỏi v́ các hoạt
động trong quá khứ, và rằng mức độ hâm
nóng trong tương lai có thể chịu ảnh hưởng
nặng nề bởi các chánh sách về việc phóng thích
khí nhà kính.
Kể từ năm
1988, vấn đề hâm nóng toàn cầu mới
được “quản lư” thường trực bởi một
tổ chức quốc tế do WMO thành lập với
sự hổ trợ của UNEP và đặt trụ sở
tại bộ chỉ huy của WMO ở

Một phiên họp của IPCC
tại
Tại Hội
nghị LHQ về Môi trường và Phát triển (United
Nations Conference on Environment and Development) được
tổ chức tại Rio de Janeiro, Ba Tây (Brazil) từ ngày 3
đến 14 tháng 6 năm 1992, hơn 150 quốc gia đă kư
Hiệp ước Cơ bản LHQ về Thay đổi
Khí hậu (United Nations Framework Convention on Climate Change (UNFCCC)),
cam kết giảm thiểu lượng CO2 phóng
thích vào khí quyển ở mỗi quốc gia để
đối phó với hiện tượng hâm nóng toàn
cầu. Nhưng việc thi
hành UNFCCC có tánh cách tự nguyện v́ không có giới hạn
phóng thích cũng như biện pháp chế tài cho mỗi
quốc gia.
Đến năm
1994, IPCC cho biết hiện tượng hâm nóng toàn cầu
vẫn c̣n là mối đe dọa (threat) và khuyến cáo các
quốc gia phải hành động quyết liệt để
vô hiệu hóa ảnh hưởng của nó. Lời tuyên bố nầy đă
thúc đẩy việc kư kết một hiệp ước
bổ túc tại Hội nghị Thứ ba của Thành viên
UNFCCC vào ngày 11 tháng 12 năm 1997 tại Kyoto, Nhật Bản. Hiệp ước bổ túc nầy,
thường được gọi là Phụ ước
Kyoto (Kyoto Protocol), đă được 174 quốc gia phê
chuẩn và có hiệu lực từ ngày 16 tháng 2 năm 2005. Theo phụ ước, 36 quốc
gia đă phát triển phải giảm lượng phóng thích
CO2 xuống mức được ấn
định trong Phụ bản I.
Các quốc gia đang phát triển kể cả Trung
Hoa, Ấn độ, và Ba Tây, chỉ cần theo dơi và báo
cáo. Hoa Kỳ, một trong
số các quốc gia không phê chuẩn, cho rằng Phụ ước
Kyoto “sai lầm chết người” v́ không bắt buộc các quốc gia đang phát triển cắt
giảm lượng CO2 phóng thích và sẽ gây
thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế Hoa
Kỳ [17].
Có lẽ v́
sự chống đối của Hoa Kỳ, cộng
với việc Trung Hoa đă vượt qua Hoa Kỳ
để trở thành quốc gia phóng thích CO2
nhiều nhất trên thế giới trong năm 2006 [18], 187 quốc
gia tham dự Hội nghị LHQ về Thay đổi Khí
hậu ở Bali, Nam Dương đă đồng ư một
chương tŕnh hành động, được gọi là
Lộ đồ Bali (Bali Roadmap) nhằm hoàn tất một hiệp ước toàn
cầu mới vào năm 2009 để thay thế cho
Phụ ước Kyoto sẽ hết hiệu lực vào
năm 2012. Chương tŕnh
hành động là một nghị tŕnh đàm phán cho đến
năm 2009, bao gồm những
vấn đề căn bản (key issues) như: thích
ứng với hậu quả của việc thay
đổi khí hậu như hạn hán và băo lụt,
phương cách làm giảm lượng khí nhà kính phóng thích
vào khí quyển, phương cách để sử dụng
rộng răi kỹ thuật thân thiện với khí hậu,
và tài trợ các biện pháp để thích ứng và đối
phó [19].
Gần đây,
Tổng thống (TT) Hoa Kỳ George W. Bush đă triệu
tập hai hội nghị quốc tế để thảo
luận các biện pháp đối phó với hiện
tượng hâm nóng toàn cầu.
Hội nghị đầu tiên, được tổ
chức ngay tại Ṭa Bạch ốc từ ngày 26
đến 27 tháng 9 năm 2007 với sự tham dự
của 16 quốc gia có nền kinh tế lớn nhất
trên thế giới, nhằm mục đích t́m kiếm
sự đồng thuận về các biện pháp lâu dài
để cắt giảm lượng khí nhà kính phóng thích
vào khí quyển. TT Bush kêu
gọi mỗi quốc gia tự nguyện ấn
định mức cắt giảm cho quốc gia của ḿnh
trong hai thập niên sắp tới và đề ra những
biện pháp để thực hiện mục tiêu đó [20]. Hội nghị thứ hai,
được tổ chức tại Honolulu, Hawaii trong hai
ngày 30 và 31 tháng 1 năm 2008, nhằm mục đích “... thống nhất các mục
tiêu chung trong việc giảm thiểu lượng khí nhà
kính phóng thích vào khí quyển, gia tăng sự an toàn và
hiệu quả của năng lượng, duy tŕ sự
tăng trưởng kinh tế, và thúc đẩy việc
đàm phán trong khuôn khổ UNFCCC” [21]. Hội nghị thảo luận những biện pháp
tự nguyện để trợ giúp các quốc gia đang
phát triển sử dụng kỹ thuật đốt than
có hiệu quả hơn, để thu góp và tàng trữ CO2
trong các hầm chứa ngầm dưới đất,
để tránh t́nh trạng phá rừng (deforestation), và
để tŕnh bày các biện pháp giúp cho các ngành kỹ
nghệ thực hiện mục tiêu cắt giảm lượng
phóng thích CO2 của quốc gia.
THAY
ĐỔI KHÍ HẬU 2007

Nhiệt độ của khí
quyển ở mặt đất (Nguồn: IPCC 2007)
Vào 17 tháng 11
năm 2007 tại Valencia, Tây Ban Nha (Spain), với sự
chứng kiến của Tổng thơ kư (TTK) LHQ Ban Ki-moon,
IPCC đă công bố bản phúc tŕnh Thay đổi Khí hậu 2007: Phúc tŕnh Tổng hợp
(Climate Change 2007: Synthesis Report) (Phúc tŕnh 2007) để
kết thúc việc lượng định t́nh h́nh khí
hậu thế giới năm 2007.
Ba lần trước đă được thực
hiện trong các năm 1990, 1995, và 2001.
Giống
như các phúc tŕnh đă được công bố, Phúc tŕnh
2007 dựa trên phúc tŕnh của ba nhóm công tác của IPCC [22] để
đi đến kết luận như sau:
v Sự hâm nóng
của hệ thống khí hậu th́ rơ ràng qua sự gia
tăng nhiệt độ trung b́nh của không khí và
nước biển toàn cầu, băng tuyết đang tan
khắp nơi, và mực nước biển trung b́nh toàn
cầu dâng lên.
v Dữ kiện
thu thập ở lục
địa và đại dương từ năm 1970 cho
thấy hệ thống thiên nhiên chịu ảnh
hưởng của sự thay đổi khí hậu
từng vùng (regional climate change),
đặc biệt là sự gia tăng nhiệt độ.
v Ảnh
hưởng của sự thay đổi khí hậu từng
vùng đối với môi trường tự nhiên và con
người dường như đang ló dạng, mặc
dù rất khó phân biệt giữa
việc
thích ứng hoặc các yếu tố phi thời tiết.
v Lượng
khí nhà kính do các hoạt động của con người
phóng thích vào khí quyển đă bắt đầu gia tăng trong
thời tiền kỹ nghệ, với mức độ là
70% từ năm 1970 đến 2004.
v Nồng
độ CO2, methane (CH4), và nitrous oxide (N2O)
do con người phóng thích vào khí quyển gia tăng đáng
kể từ năm 1750 và đang vượt xa các trị
số của thời tiền kỹ nghệ.
v Sự gia
tăng nhiệt độ trung b́nh toàn cầu từ
giữa thế kỷ 20 là do sự gia tăng nồng
độ khí nhà kính do con người phóng thích (anthropogenic
GHG concentrations). Sự hâm nóng
do con người gây ra (anthropogenic warming) trong 50 năm
vừa qua th́ đáng kể ở mọi lục địa
(ngoại trừ Nam Cực (
v Ảnh
hưởng của con người:
o
làm
dâng mực nước biển trong hậu bán thế
kỷ 20,
o
làm
thay đổi chế độ gió (wind patterns), ảnh
hưởng quỹ đạo băo, và chế độ
nhiệt độ,
o
làm
tăng nhiệt độ vào những đêm rất nóng và
vào những ngày đêm lạnh,
o
làm
tăng nguy cơ của các đợt nóng (heat vawes), tăng
vùng hạn hán từ thập niên 1970 và tăng tần
số của các trận mưa to.
v Tiếp tục
phóng thích khí nhà kính bằng hoặc nhiều hơn mức
hiện hay có thể làm nhiệt độ nóng hơn và
hệ thống khí hậu toàn cầu trong thế kỷ 21
sẽ thay đổi nhiều hơn thế kỷ 20.
v Sự hâm nóng
do con người gây ra và việc dâng mực nước
biển có thể kéo dài hàng thế kỷ mặc dù nồng
độ khí nhà kính đă được ổn
định.
v Sự hâm nóng
do con người gây ra có thể đưa đến
hậu quả bất th́nh ĺnh (abrupt) và vĩnh viễn
(irriversible), tùy theo mức độ của sự thay
đổi khí hậu.
v IPCC tin rằng
thích ứng (adaption) với sự thay đổi khí hậu
hoặc dùng biện pháp làm giảm hậu quả (mitigation)
không thôi không thể tránh tất cả hậu quả
của nó; tuy nhiên, chúng có thể hỗ trợ lẫn nhau
để làm giảm nguy cơ một cách đáng kể.
v Có thể làm
giảm, tŕ hoăn, hoặc tránh được nhiều
hậu quả bằng nhiều
biện
pháp. Những biện pháp và
đầu tư trong ṿng 2-3 thập niên tới sẽ
ảnh hưởng rất lớn đối với
mức ổn định CO2. Tŕ hoăn việc giảm
lượng phóng thích sẽ hạn chế đáng kể
cơ hội để đạt được mức
ổn định và có thể làm cho hậu quả khắt
nghiệt hơn.
Không giống
với những phúc tŕnh đă được công bố,
Phúc tŕnh 2007 không c̣n đề cập đến những
điểm mơ hồ (uncertainties) và thiếu sót (gaps) trong
sự hiểu biết về hiện tượng hâm nóng
toàn cầu có thể ảnh hưởng đến kết
quả được tŕnh bày trong phúc tŕnh. Phúc tŕnh 1990 nêu ra những
điểm mơ hồ bao gồm “... nguồn cung cấp (sources) và nơi tiếp
nhận (sinks) khí nhà kính và vai tṛ của mây, đại
dương, và các lớp băng ở hai cực của
trái đất” [23]. Phúc
tŕnh 1995 xác nhận rằng “nhiều
yếu tố hiện đang giới hạn khả
năng của chúng ta trong việc tiên đoán và phát hiện
những thay đổi khí hậu trong tương lai” và
nêu ra một số vấn đề cần phải t́m
hiểu để giảm tính mơ hồ như việc
ước tính lượng phóng thích trong tương lai và
chu kỳ địa sinh hóa (biogeochemical) của khí nhà kính
bao gồm nguồn cung cấp và nơi tiếp nhận; vai
tṛ của các yếu tố khí hậu trong các mô h́nh,
nhất là ảnh hưởng của mây, đại
dương, băng đại dương và thực
vật để cải thiện việc tiên đoán
mức độ và xu hướng vùng; và thu thập dữ
kiện thời tiết một cách có hệ thống và lâu
dài để thử nghiệm mô h́nh, lượng
định sự thay đổi theo không gian và thời
gian, và những nghiên cứu khác.
Phúc tŕnh 1995 cũng thừa nhận rằng: “những thay đổi hệ
thống khí hậu lớn (large), nhanh (rapid), và không
lường trước được (unexpected) trong
tương lai, do bản chất của chúng, th́ rất khó
tiên đoán. Điều nầy
ẩn dụ rằng sự thay đổi khí hậu trong
tương lai có thể liên quan đến ‘nhiều sự
ngạc nhiên (surprises)’” [24].

Dự đoán nhiệt
độ khí quyển vào năm 2100 (Nguồn: IPCC 2007)
Phúc tŕnh 2001
kết luận rằng “cần
phải nghiên cứu thêm để cải thiện khả
năng phát hiện, liên kết, và t́m hiểu sự thay
đổi khí hậu; để giảm tính mơ hồ;
và để tiên đoán những thay đổi khí hậu
trong tương lai. Đặc
biệt là nhu cầu khảo sát thời tiết có hệ
thống và lâu dài và nghiên cứu về mô h́nh và diễn
biến thời tiết,” mà quan trọng nhất có
lẽ là việc “cải
thiện sự hiểu biết về những cơ
chế (mechanisms) và yếu tố (factors) làm thay đổi sự
khác biệt giữa bức xạ ra vào khí quyển (radiative
forcing); t́m hiểu và xác định những diễn
biến và phản ứng quan trọng chưa biết
(unresolved) trong hệ thống khí hậu; cải thiện
phương pháp xác định tính mơ hồ của
kết quả do mô h́nh tiên đoán; liên kết có hiệu
quả hơn các mô h́nh hệ thống thể chất và
địa sinh học để cải thiện sự liên
kết với các hoạt động của con
người” [25].
SỰ
THẬT MÍCH L̉NG
Theo PTT Al Gore, “T́nh trạng khủng hoảng
khí hậu của chúng ta nhiều lúc xem chừng xảy ra
chậm chạp: nhưng thật ra nó đang ở trong t́nh
trạng khẩn cấp. Người
Trung Hoa diễn tả khủng hoảng bằng hai kư
tự. Kư tự thứ
nhứt có nghĩa là “nguy hiểm,” và kư tự thứ hai có
nghĩa là “cơ hội.
Để ngăn chận và vượt qua mối nguy
hiểm đang ŕnh rập, trước hết phải
thừa nhận rằng chúng ta đang đối mặt
với t́nh trạng khủng hoảng. Nhưng tại sao các nhà lănh
đạo của chúng ta dường như không nghe
những tiếng chuông báo động rơ ràng như
thế? Có phải họ
đang che đậy sự thật, v́ họ biết
rằng, ngay sau khi thừa nhận, họ sẽ có trách
nhiệm tinh thần để hành động? Hay tiện hơn hết là cứ
bỏ qua những tiếng chuông báo động đó? Có thể, nhưng những sự
thật mích ḷng vẫn không phai mờ cho dù chúng chưa
được nh́n nhận.
Thật vậy, dù chúng ta không nhắc đến,
tầm quan trọng của chúng gia tăng chứ không
giảm” [26].
Qua Sự thật Mích ḷng, PTT Al
Gore tán đồng quan điểm của IPCC cho rằng đa
số rộng răi (vast majority) khoa học gia trên thế
giới công nhận hiện tượng hâm nóng toàn cầu
là có thật, đang tiếp diễn, và do con người
gây ra qua việc sử dụng năng lượng hóa
thạch như than đá, khí đốt, và dầu hỏa
và phá rừng. Ông đưa ra
một số dữ kiện mà ông cho là phủ đầu
và không thể chối căi (overwhelming and undeniable) để
biện minh cho quan điểm của ḿnh [27]. Những dữ kiện nầy
được tóm tắt như sau:
v Tuyết tan
ở đỉnh núi Kilimanjaro ở
v Biểu
đồ nhiệt độ và nồng độ CO2
của không khí đo được trong các mẩu băng
khoan xuống các tảng băng từ 650.000 năm
trước;
v Biểu
đồ nhiệt độ toàn cầu từ 1860
đến 2005 với nhiệt độ trong năm 2005
nóng nhất trong khoảng thời gian nầy;
v Con số băo
cấp 4 và 5 gia tăng đáng kể với thí dụ
điển h́nh là băo Katrina;
v Con số
lụt lớn tăng gấp 5 lần ở Âu Châu, 15
lần ở Châu Mỹ, và 6 lần ở Châu Á trong 50
năm vừa qua;
v Hồ
v Các tảng
băng ở Bắc Cực tan khiến cho gấu Bắc Cực
bị chết ch́m;
v Lưu
lượng băng từ
v Nhiều
rặng san hô (coral reefs) bị chết;
v Kư sinh trùng mang
bệnh di chuyển đến vùng cao hơn;
v CO2 do
Hoa Kỳ phóng thích (30.3%) nhiều hơn tổng
số do Nam Mỹ (3.8%), Trung Đông (2.6%), Úc (1.1%), và Á Châu
kể cả Trung Hoa và Ấn Độ (15.9%) phóng thích;
v Các nhà khoa
học hầu như hoàn toàn đồng ư về nguyên nhân
của hiện tượng hâm nóng toàn cầu.

Nồng độ CO2
trong quá khứ, hiện tại, và dự đoán (Nguồn: Sự thật Mích ḷng)
Sự
thật Mích ḷng
cũng cảnh cáo rằng, nếu hiện tượng hâm
nóng toàn cầu cứ tiếp diễn, chúng ta có thể nhận
lănh những hậu quả thảm khốc (catastrophic
consequences) [28]. Những
hậu quả nầy được tóm tắt như sau:
v Số
người chết hàng năm v́ hâm nóng toàn cầu sẽ
tăng gấp đôi, lên đến 300.000 người trong
ṿng 25 năm;
v Mực
nước biển toàn cầu có thể dâng trên 20 feet v́
băng tan ở Greenland và Nam Cực và hủy hoại
nhiều vùng ven biển trên thế giới;
v Những
đợt nắng nóng (heat waves) sẽ khắc nghiệt và
thường xuyên hơn;
v Hạn hán và
cháy rừng sẽ xảy ra thường xuyên hơn;
v Bắc Cực
sẽ không c̣n băng vào mùa hè 2050; và
v Trên 1 triệu
chủng loại trên thế giới có thể bị
diệt chủng vào năm 2050.
Trong phần
kết thúc, Sự thật Mích
ḷng cho biết “Một
vấn đề to lớn khác của hiện tượng
hâm nóng toàn cầu là con số đáng ngạc nhiên số
người đi từ phủ nhận (denial) đến
tuyệt vọng (despair) mà không chịu dừng bước
để suy nghĩ. Đúng, t́nh
trạng khủng hoảng có thật... nhưng có những cái
chúng ta có thể làm được.” Những cái đó là việc
sử dụng năng lượng mặt trời,
địa nhiệt (geothermal), và gió; xây mái nhà xanh (green roof);
sử dụng bóng đèn huỳnh quang (fluorescent lightbulb);
lái xe hỗn hợp (hybrid); và dùng xe bus chạy bằng
hydrogen (hydrogen fuel-cell) [27].
