KIỀU
MỸ DUYÊN PHỎNG VẤN
TIẾN
SĨ MAI THANH TRUYẾT VÀ KỸ SƯ NGUYỄN MINH QUANG
TRONG
CHƯƠNG TRÌNH KHÔNG HẸN NGÀY 22 THÁNG 3 NĂM 2002
ĐÀI
TIẾNG NÓI VIỆT
Trong Chương trình Không Hẹn
của đài Tiếng Nói Việt Nam Hải Ngoại (TNVNHN) ngày 22 tháng 3 năm
2002, Kiều Mỹ Duyên (KMD) lại được hân hạnh phỏng vấn hai nhà khoa
học người Mỹ gốc Việt ở miền Nam California, mà trong thời gian gần
đây, được cộng đồng người Việt ở khắp nơi trên thế giới biết đến
qua bài viết của ký giả John Gittelshon trên báo Orange County Register
vào đầu tháng 1 năm 2002. Đó là
Tiến sĩ Mai Thanh Truyết (MTT) và Kỹ sư Nguyễn
Minh Quang (NMQ).
TS Truyết tốt
nghiệp ngành Hóa học ở Pháp. Trước
năm 1975, ông là Giảng sư và Trưởng ban Hóa học của trường Đại học
Sư phạm Sài Gòn và là Giám đốc Học vụ của Viện Đại học Cao Đài
Tây Ninh. Hiện nay, ông là Giám
đốc nhà máy xử lý nước thải của công ty BKK Corporation, Giám đốc
Kiểm soát An toàn và Chất lượng của Weck Laboratories Inc., và Giám
đốc Kỹ thuật của công ty Water Unlimited Inc. ở Los Angeles, California.
KS Quang tốt nghiệp Kỹ sư
Công chánh, Phú Thọ, Sài Gòn và tốt nghiệp Kỹ sư và Cao học với
chuyên ngành thủy lợi, Nebraska, Hoa Kỳ.
Ông là Kỹ sư Chuyên nghiệp (professional engineer) ở
Sau đây là tóm
lược nội dung buổi trao đổi của KMD với TS Truyết và KS Quang.
KMD: Xin kính chào quý thính giả
của Chương trình Không Hẹn đài TNVNHN.
Hôm nay, TS Mai Thanh Truyết và KS Nguyễn Minh Quang sẽ trình bày
với quý thính giả hai vấn đề mà KMD nghĩ rất là quan trọng. Thứ nhất là “Hội nghị Khoa học về Ảnh
hưởng của Chất Da cam/Dioxin đối với Sức khỏe và Môi trường ở Việt
Nam” đã diễn ra tại Hà Nội từ ngày 3 đến 6 tháng 3 năm 2002 vừa
qua. Thứ hai là vấn đề ô nhiễm
của một số thực phẩm nhập cảng từ Việt
MTT: Tôi, Mai Thanh Truyết, xin có lời chào tái ngộ cùng quý thính giả của
Chương trình Không Hẹn.
NMQ: Tôi, Nguyễn Minh Quang, xin
có lời chào tái ngộ quý thính giả của đài TNVNHN và chị KMD.
KMD: Kính chào hai anh. Câu hỏi thứ nhất dành cho hai anh là
hai anh có biết gì về “Hội nghị Khoa học về Ảnh hưởng của Chất Da
cam/Dioxin đối với Sức khỏe và Môi trường ở Việt
MTT: Kính thưa quý thính giả, đáng
lý ra thì anh Quang và tôi đã có mặt ở hội nghị đó, nhưng vì một lý
do đặc biệt nên anh em chúng tôi không thể tham dự được. Tuy nhiên, có một số tin tức về hội
nghị mà chúng tôi có thể trình bày cùng quý thính giả của Chương
trình Không Hẹn ngày hôm nay.
Như quý thính giả được biết,
đây là một hội nghị khoa học được dự trù tổ chức một cách rộng
rãi ở Hà Nội, Việt Nam với sự tham dự của các nhà khoa học quốc
tế kể cả Hoa Kỳ, Việt Nam, và các quốc gia khác; các chuyên viên
quốc tế quan tâm đến vấn đề; các cơ quan phi chính phủ (NGOs); và các
cơ quan truyền thông để thảo luận về ảnh hưởng của chất da cam/dioxin
qua việc sử dụng chất khai quang trong chiến tranh Việt Nam từ năm 1961
đến 1971. Vấn đề được đề cập đến
là ảnh hưởng đối với sức khỏe con người và ảnh hưởng đối với môi
trường và hệ sinh thái.
Nhưng trên thực tế, hội nghị
đã bị phía Việt
NMQ: Như anh Truyết đã trình bày, anh em chúng tôi có dự trù tham dự
hội nghị từ trước. Nhưng vào
giờ chót, vì lý do bất khả kháng, anh em chúng tôi ngưng xúc tiến
thủ tục giấy tờ. Nhưng anh em chúng
tôi nghĩ rằng, nếu có xúc tiến thủ tục, anh em chúng tôi cũng không
được phép tham dự; vì như lời anh Truyết nói,
chỉ có hai ký giả được tham dự lễ khai mạc và bế mạc chứ không
được tham dự các buổi thảo luận chuyên môn của hội nghị.
Trở lại vấn đề tổ chức,
hội nghị được tổ chức bởi một Ủy ban Hỗn hợp Việt Mỹ gồm 7 thành
viên cho mỗi phía. Phía Hoa Kỳ gồm
có đại điện của Viện Y tế Quốc gia (National Institute of Health), Cơ
quan Bảo vệ Môi sinh (Environmental Protection Agency), Cơ quan Kiểm soát
Bệnh tật (Centers for Disease Control and Prevention), Đại học Yale, và Đại
học Berkeley. Phía Việt Nam gồm có
đại điện của Bộ Y tế, Cục Môi trường, Bộ Ngoại giao, Trường Y khoa
Hà Nội, Hội Bảo vệ Môi trường và Bảo tồn Thiên nhiên, và Tổng
hội Y Dược. Tin tức về hội nghị
được phổ biến trên website của Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ.
Có tất cả 84 đề tài tham
luận được đệ nạp, nhưng chỉ có 67 tham luận được cứu xét, và 55 tham
luận được chấp thuận trước khi hội nghị khai mạc. Trong số 55 tham luận được chấp thuận,
chỉ có 5 tham luận là chưa nộp tài liệu bao gồm tham luận của Bác sĩ
(BS) Hoàng Đình Cầu của phía Việt Nam.
Trong số 12 tham luận còn đang cứu xét, có đến 11 tham luận chưa
nộp tài liệu bao gồm 9 tham luận của phía Việt Nam. Cũng cần nói thêm là các tham luận
của phía Việt Nam chỉ được đệ nạp cho Ban tổ chức vào cuối tháng
2/2002, nghĩa là khoảng hai tuần sau khi thời hạn nộp tài liệu chấm
dứt và chỉ một vài ngày trước khi hội nghị khai mạc.
KMD: Thưa anh NMQ, có một người
rất nổi tiếng ở Việt
MTT: Tôi xin phép được trả lời
câu hỏi nầy. Thưa chị, đây cũng là
một thắc mắc rất lớn của chúng tôi, bởi vì BS Đài chẳng những đặc
trách về dioxin mà còn là “đệ tử” của Giáo sư Tôn Thất Tùng
nữa. Trong giai đoạn đầu, BS Đài
rất có uy tín trong vấn đề dioxin, nhưng tôi không hiểu tại sao; cho
nên, tôi chỉ xin đưa ra hai nghi vấn.
Thứ nhứt, có lẽ BS Đài có những phát biểu đi ngược với khuynh
hướng mà hội nghị sẽ theo đuổi để giải quyết vấn đề. Tôi xin đan cử một thí dụ. Trước khi hội nghị khai diễn, BS Đài
tuyên bố rằng, trong thời gian chiến tranh, ngày ngày ông ngắm máy
bay Mỹ bay thật cao (very, very high) để rải chất độc xuống vùng đóng
quân của quân giải phóng. Xin thưa,
máy bay Mỹ chỉ có khả năng rải chất khai quang ở độ cao khoảng 150
bộ hay 50 m mà thôi. Thứ hai, BS
Đài còn tuyên bố rằng, ông đi từ Bắc vô
NMQ: Tôi xin góp ý thêm với anh
Truyết là anh em chúng tôi đã theo dõi hội
nghị nầy rất sát, qua tin tức trên
báo chí và nhất là qua website của Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ, cơ quan
đồng tổ chức hội nghị. Chúng
tôi thấy có nhiều điểm rất lạ.
Thí dụ điển hình nhất là chương trình nghị sự của hội nghị. Cho đến giờ phút chót, chương trình nghị
sự cũng chưa được hoàn tất. Có
một số đề tài không được ghi vào chương trình nghị sự, thậm chí, có
những tham luận không có đề tài lẫn tham luận viên. Đây là một điều hết sức bất thường
đối với một hội thảo khoa học có tầm vóc quốc tế như vậy.
MTT: Tôi xin nói thêm ở đây
là, ngoài BS Đài, chúng tôi còn thấy một vài khoa học gia khác cũng
không được trình bày trước hội nghị, thí dụ như BS Keith Horsley của
Australia, mặc dù ông nầy đã gởi tài liệu tham luận đến Ban Tổ chức
và được chấp thuận. Lý do có thể
vì ông và BS Paul Jeffs, hai khoa học gia của Australia, đã điều chỉnh
“sự lầm lẫn trong nghiên cứu” của hai ông khiến cho Bộ Cựu chiến
binh Hoa Kỳ tạm thời đình chỉ trợ cấp cho cựu chiến binh có tiếp xúc
với chất da cam ở Việt Nam và có con mang bệnh ung thư máu cấp tính
(acute myelogenous leukemia).
NMQ: Tôi xin bổ túc thêm. Theo quy định của Ban Tổ chức, khi một
nhà khoa học muốn thuyết trình trước hội nghị, họ phải liên lạc với
Ban Tổ chức để cho biết đề tài và nội dung của tham luận. Trong chương trình nghị sự có tất cả 64
bài tham luận, trong đó phía Việt Nam chiếm phân nửa, tức 32 bài. Phân nửa còn lại dành cho phía Hoa Kỳ và
khoa học gia của các quốc gia khác.
Như tôi đã trình bày ở trên, vì có đến 55 đề tài đã được
chấp thuận, cho nên Ban Tổ chức bắt buộc phải loại một số khoa học
gia quốc tế, trong số nầy có một người rất nổi tiếng mà chắc quý
thính giả không xa lạ gì, đó là BS Arnold Schecter.
KMD:
Hai anh có biết tại sao không?
MTT:
Thưa chị, chúng tôi cho rằng ông BS Schecter bị loại vì lý do
chính trị hơn là khoa học. BS Schecter
không được đọc tham luận trước hội nghị, nhưng ông được quyền phát
biểu trước khi hội nghị khai mạc. BS
Schecter tuyên bố rằng, theo kết quả nghiên cứu mới nhất của ông,
thì nồng độ dioxin cao nhất trong máu của dân Biên Hòa cao gấp 206
lần mức trung bình ở Việt Nam. Cách
đây 10 tháng, BS Schecter đã công bố một phúc trình cho thấy nồng độ
dioxin cao nhất của người dân Biên Hòa cao gấp 135 lần mức trung bình. Những con số nêu trên quả là những con
số đáng cho chúng ta đặt nghi vấn.
Trong lần nghiên cứu mới nhất, BS Schecter đã khám phá nồng độ
dioxin trong một mẩu máu ở Biên Hòa là 413
phần ức (ppt, parts per trillion).
Ông tự động chia cho 2 phần ức (tức nồng độ trung bình của dioxin
trong máu của người dân miền Bắc) và kết luận là mức nhiễm độc
dioxin của người dân Biên Hòa là 206 lần (đúng ra là 206,5 lần!) cao
hơn. Thiết nghĩ, con số nầy là một
con số chính trị hơn là một con số khoa học.
KMD: Các anh có nghĩ rằng ông
Schecter công bố lượng dioxin trong máu của người dân Biên Hòa cao
gấp 206 lần là nhằm mục đích kêu gọi Liên Hiệp Quốc (LHQ) và Hoa Kỳ
viện trợ cho Việt Nam hay không?
MTT: Tôi nghĩ đó chính là mục tiêu
của chính phủ Việt
NMQ: Thưa chị KMD, theo sự suy luận của tôi,
sở dĩ BS Schecter không được trình bày trong hội nghị là vì tuyên bố
của ông có sự mâu thuẫn. Ông
tuyên bố rằng nồng độ cao nhất của dioxin trong máu người dân Biên
Hòa cao gấp 206 lần nồng độ trung bình là 2 phần ức. Nhưng ông cũng tuyên bố trước khi hội
nghị khai mạc rằng ông đã phân tích 20 mẩu cá
nhập cảng từ Việt
Trở lại vấn đề chính trị,
tôi xin nêu một vài điểm để minh chứng rằng “Hội nghị Khoa học về
Ảnh hưởng của Chất Da cam/Dioxin đối với Sức khỏe và Môi trường ở
Việt Nam” ở Hà Nội đã bị ô nhiễm bởi màu sắc chính trị chứ không
còn tính trong sáng của khoa học như hai chánh phủ Việt Mỹ đã thỏa
thuận từ trước. Điểm thứ nhất,
Việt Nam “tố cáo” Hoa Kỳ đã “tiến hành một cuộc chiến tranh hóa học
chống lại nhân dân Việt Nam” cách đây 30 năm. Điểm thứ hai, đó là lời tuyên bố trong
hội nghị của phía Việt Nam đòi Hoa Kỳ phải bồi thường thiệt hại cho
“nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam” và lời “hăm dọa” tiếp theo là
sẽ dùng thủ tục pháp lý nếu Hoa Kỳ không chịu dàn xếp (settle). Điểm thứ ba, đó là tham luận của ông
Paul Sutton, Chủ tịch Ủy ban Chất da cam/Dioxin của Hội Cựu chiến binh
Hoa Kỳ tham chiến tại Việt
KMD:
Nhưng ông cựu chiến binh đó có phải là một khoa học gia hay
không?
NMQ: Theo chỗ tôi được biết, ông Paul Sutton
không phải là một khoa học gia.
Cũng cần nói thêm ở đây là, trước khi đi Hà Nội để tham dự
hội nghị, ông và ông Chủ tịch của VVA là Tom Corey đã thực hiện một
cuộc vận động rất mạnh mẽ ở Hoa Kỳ để đòi bồi thường và giúp đỡ
cho nạn nhân chất da cam ở Việt Nam cũng như họ đã đòi bồi thường
cho chính họ trước đây. Mặc dù kết
quả nghiên cứu chỉ cho thấy bằng chứng mơ hồ hoặc giới hạn (limited/suggestive
evidence) về sự liên hệ giữa dioxin với một số bệnh tật; vì lý do
chánh trị, Quốc hội Hoa Kỳ đã chấp thuận đề nghị của Bộ Cựu chiến
binh để trợ cấp cho bất cứ cựu chiến binh nào (xin lặp lại: bất cứ
cựu chiên binh nào) bị nhiễm tám loại bệnh được ghi trong danh
sách. Đến năm 1996, một lần nữa,
vì muốn “vuốt ve” giới cựu chiến binh trong vụ tai tiếng tình dục với
cô Paula Jones, Tổng thống Clinton nới rộng phạm vi bồi thường để bao
gồm bệnh ung thư nhiếp hộ tuyến (prostate cancer) và bệnh vẹo xương
sống (spina bifida), mặc dù hai chứng bệnh nầy cũng chỉ có bằng chứng
mơ hồ và giới hạn như các chứng bệnh trước. Sự kiện chỉ có 7.500 cựu chiến binh đang
lãnh trợ cấp, trong số khoảng 2,6 triệu cựu chiến binh được kể là
có tiếp xúc với chất da cam, là một minh chứng hùng hồn nhất về
tính “giới hạn và mơ hồ” của mối liên hệ giữa chất da cam với các
chứng bệnh do Bộ Cựu chiến binh Hoa Kỳ liệt kê. Tôi nghĩ ông Paul Sutton có cung cách
của một chính trị gia chứ không phải của một khoa học gia.
KMD: Như vậy, hai anh nhận định
như thế nào về mục đích của hội nghị khoa học ở Hà Nội khi trọng
tâm của nó lại là chánh trị?
MTT: Chúng tôi nhận thấy, có
thể hơi chủ quan, là phía Hoa Kỳ muốn giải quyết vấn đề trên cả hai
bình diện khoa học lẫn nhân đạo, cho nên, họ mới chấp nhận ngồi
xuống đối thoại với phía Việt Nam.
Còn phía Việt
KMD: Thưa anh, dường như phía Việt
Nam đã phản ứng mạnh mẽ khi phía Hoa Kỳ chất vấn về xác quyết của
Việt Nam cho rằng “chất độc màu da cam” dùng trong cuộc chiến Việt Nam
đã gây dị thai và rất nhiều chứng bệnh khác cho nhiều thế hệ người
dân Việt, phải không anh?
MTT: Thưa chị đúng. Khi phía Việt Nam tuyên bố có hơn một
triệu người trên toàn quốc bị ảnh hưởng của chất da cam/dioxin và có
trên 50.000 trẻ em bị dị thai hoặc khuyết tật và Hoa Kỳ phải có trách
nhiệm bồi thường cho họ, phía Hoa Kỳ yêu cầu phía Việt Nam công bố
các kết quả nghiên cứu để phía Hoa Kỳ xem xét và kiểm nghiệm. Dĩ nhiên là phía Việt
KMD: Như vậy thì cái “tuyên bố
báo chí” và cái “biên bản ghi nhớ” của hội nghị nêu ra những điểm
gì?
NMQ: Thưa chị, cái “biên bản ghi
nhớ,” dịch từ chữ “memorandum of understanding,” thật ra chỉ là một biên
bản bình thường mà thôi. Nó ghi
lại những điểm mà hai bên đồng ý theo đó để thi hành. Nhưng trước khi biên bản nầy được ký
kết thì có hai sự kiện đã xảy ra.
Như quý thính giả đã biết, hội nghị chánh thức bắt đầu vào
ngày mồng 3 và chấm dứt vào ngày mồng 6 tháng 3 năm 2002. Theo sự suy luận có thể hơi chủ quan
của tôi, qua những lời phát biểu của các khoa học gia cũng như của
ông Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt
Phiên họp thứ nhứt được tổ
chức vào ngày 7 tháng 3 để các khoa học gia quốc tế, được chọn lọc
bởi Hoa Kỳ và Việt Nam, xác định xem mức độ thiếu sót của những dữ
kiện hiện có và sau đó đề nghị các lãnh vực nghiên cứu tổng quát
nhằm thu thập thêm các dữ kiện cần thiết. Phiên họp thứ nhì được tổ chức ngay
ngày hôm sau, 8 tháng 3, để các khoa học gia đại điện hai phía Hoa Kỳ
và Việt Nam thảo luận chi tiết nhằm đạt đến sự thỏa thuận liên quan
đến công tác nghiên cứu trong tương lai.
Sau hai phiên họp nầy, đến ngày 10 tháng 3 năm 2002, hai phía Hoa
Kỳ (TS Anne Sassaman của Viện Khoa học Y tế Môi trường Quốc gia) và
Việt Nam (TS Nguyễn Ngọc Sinh của Cục Môi trường) mới chính thức ký
kết cái “biên bản ghi nhớ” liệt kê tất cả những điểm mà hai bên
đã thảo thuận trong phiên họp ngày 8 tháng 3 năm 2002.
MTT: Tôi xin bổ túc thêm là
những điểm được hai bên đồng ý ghi trong “biên bản ghi nhớ” đều nhắm
vào hai mục tiêu: nghiên cứu ảnh hưởng của dioxin lên sức khỏe con
người và nghiên cứu ảnh hưởng của dioxin lên môi trường ở Việt
NMQ: Thưa anh Truyết
và quý thính giả, cái biên bản được ký kết ngày 10 tháng 3 năm 2002
gồm có ba phần chánh: lãnh vực nghiên cứu, vấn đề hợp tác trong
việc nghiên cứu, và tiến trình tài trợ và hướng dẫn việc nghiên
cứu. Tôi sẽ tuần tự chia sẻ
với quý thính giả những chi tiết quan trọng trong biên bản nầy.
Về lãnh vực nghiên cứu, hai
bên đồng ý tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của chất da cam/dioxin
đối với sức khỏe con người và đối với môi trường. Về ảnh hưởng đối với sức khỏe của con
người, việc nghiên cứu sẽ được thực hiện trên dân số có tiếp xúc
với chất da cam, phương thức điều trị bằng thuốc dân tộc (do phía Việt
Nam đề nghị), và một số công tác khác (do các khoa học gia quốc tế
đề nghị) bao gồm việc công bố rộng rãi những dữ kiện thu thập được,
tổ chức những chương trình huấn luyện, soạn thảo quy định cho việc
nghiên cứu, và thu thập dữ kiện qua công tác nghiên cứu và thống
kê. Ở đây, tôi xin mở một dấu
ngoặc để thưa rằng những đề nghị của các khoa học gia quốc tế thì
không có gì mới mẻ, vì những đề nghị nầy đã được anh em chúng tôi
nêu lên nhiều lần trước đây. Về
ảnh hưởng đối với môi trường, hai bên đồng ý nghiên cứu các phương
pháp nhanh và rẽ để xác định nồng độ của dioxin trong đất, phù sa,
và các mẩu sinh học (máu, mỡ, sữa), tăng
cường khả năng phân tích (phòng thí nghiệm, dụng cụ,...), các
phương pháp ít tốn kém để giảm thiểu ảnh hưởng, và tiến hành dự án
nghiên cứu hệ sinh thái và phục hồi rừng Mã Đà ở Sông Bé và dự
án nghiên cứu để xác định và phục hồi các “điểm nóng” ở Đà
Nẵng.
Về vấn đề hợp tác trong
việc nghiên cứu, hai bên đồng ý khuyến khích việc trao đổi trong việc
huấn luyện hậu đại học, khuyến khích việc thăm viếng dài hạn của
các khoa học gia lão thành của hai nước, tổ chức những chương trình
hội thảo và huấn luyện, và yểm trợ việc trao đổi tin tức khoa học.
Về tiến trình tài trợ và
hướng dẫn việc nghiên cứu, hai bên đồng ý sẽ không có thêm bất cứ
một đề nghị hay nghiên cứu nào của biên bản được thực hiện trước
khi hoàn tất các công việc sau đây, mà theo tôi, đó là những điều
kiện mà Hoa Kỳ đặt ra cho phía Việt Nam.
Một là thành lập một Ủy ban Cố vấn Hỗn hợp Việt Mỹ có
nhiệm vụ xác định mục tiêu của chương trình nghiên cứu, điều hợp
chương trình nghiên cứu, và cứu xét và chấp thuận nội dung của các
cuộc nghiên cứu. Hai là soạn thảo
quy định về việc tổ chức và điều hành chương trình nghiên cứu và
phải có sự thỏa thuận của hai chánh phủ về các vấn đề như phương
pháp nghiên cứu, tiêu chuẩn áp dụng cho các khoa học gia tham gia
việc nghiên cứu, tiêu chuẩn khoa học và lương tâm nghề nghiệp, phương
pháp để lượng định việc thi hành các quy định và luật lệ áp dụng cho
việc nghiên cứu, mức độ phổ biến kết quả nghiên cứu đến cộng đồng
khoa học quốc tế, và cách thức phổ biến kết quả nghiên cứu. Ba là xác định nguồn tài trợ và cách
thức tài trợ cho việc nghiên cứu bao gồm công tác căn bản, phát
triển nhân sự, và trang thiết bị cho phòng thí nghiệm.
KMD:
Thưa hai anh, các anh vừa cho biết chi tiết kết quả của hội nghị
và cũng có nhận định là “Hội nghị Khoa học về Ảnh hưởng của Chất da
cam/Dioxin đối với Sức khỏe và Môi trường ở Việt Nam” nặng phần
chánh trị hơn là khoa học thuần túy vì Hà Nội chỉ muốn Hoa Kỳ và LHQ đổ
tiền vào Việt Nam. Như vậy, theo hai
anh, hội nghị nầy có những điểm nào tích cực và tốt đẹp hay không?
Thứ hai, trước mặt KMD hiện
có một danh sách ghi 54 loại thực phẩm nhập cảng từ Việt
NMQ: Thưa chị KMD, trước khi chúng ta bước sang
vấn đề thực phẩm nhập cảng, tôi xin góp ý thêm về kết quả cuộc
hội nghị vừa qua ở Hà Nội. Theo nhận
định của tôi thì phía Việt Nam đã không đạt được mục tiêu của họ vì
“biên bản ghi nhớ” chỉ hoàn toàn đề cập đến khía cạnh khoa học mà
thôi. Tôi cho đó là một điểm hết
sức tích cực cho đất nước và người dân Việt
KMD:
Thưa anh Truyết, nếu các cơ quan quốc tế
đổ tiền vào một nước độc tài như Việt
MTT:
Tôi nghĩ chuyện nầy khó xảy ra trên thực tế vì kết quả của
hội nghị đã được ghi nhận một cách rõ ràng và hoàn toàn có tính
cách kỹ thuật. Nhưng phía Việt
KMD: Xin cảm ơn hai anh. Bây giờ chúng ta có thể bước qua vấn
đề thực phẩm Việt
MTT: Vâng thưa chị, đây là một
vấn đề hết sức tế nhị thể hiện qua nỗi lo âu của người dân ở trong
nước lẫn ngoài nước. Vấn đề nầy
trở nên nghiêm trọng trong thời gian gần đây. Những tin tức liên quan đến arsenic, các
hóa chất độc hại, thuốc trừ sâu rầy, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc
khử trùng, v.v. được loan báo trên báo chí trong nước từ Bắc đến Nam,
mà đặc biệt là ở hai thành phố Hà Nội và Sài Gòn. Hầu như ngày nào cũng có tin tức liên
quan đến việc nhiễm độc trong đất và nước và ngộ độc vì ăn rau quả
và thực phẩm bị nhiễm độc. Chỉ
cách đây vài ngày thôi, cơ quan y tế địa phương đã kiểm nghiệm và cho
biết một số rau muống, cải, cà, v.v. đã bị nhiễm thuốc trừ sâu rầy
thuộc họ organo-phosphate, một hóa chất căn bản để điều chế hàng
trăm loại thuốc trừ sâu rầy khác nhau.
Rau cải tại thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là ngó sen, đã bị
nhiễm kim loại nặng như chì, đồng, kẽm, và thủy ngân. Nông dân ở những vùng trồng hoa màu
cung cấp cho thành phố như Xóm Mới, Hạnh Thông Tây, Củ Chi, v.v. phải
dùng nước bị ô nhiễm bởi nước thải của các hãng xưởng như kinh Tham
Lương chẳng hạn. Năm 1999, chúng
tôi có phân tích hai mẫu nước ở Xóm Mới và
đã nêu lên mối quan tâm về sự hiện diện của chì và thủy ngân cùng
với arsenic.
KMD:
Thưa anh Truyết, theo lời anh thì rau cải,
kể cả ngó sen, ở Việt
MTT:
Thưa chị, về những mặt hàng Việt
KMD: Trước mặt KMD có danh sách
liệt kê một số mặt hàng nhập cảng từ Việt
MTT: Thưa chị và quý thính giả,
bất cứ ai cũng có thể vào website của cơ quan FDA để xem danh sách
cập nhật hóa những mặt hàng bị tịch thu, lý do bị tịch thu, và cơ sở
sản xuất mặt hàng. Theo chỗ tôi
được biết, đa số các mặt hàng thủy sản bị tịch thu có chứa vi khuẩn
salmonella. Tiện đây, tôi cũng xin
thông báo cùng quý vị là, theo khuyến cáo của cơ quan FDA, người tiêu
thụ có thể thông báo cho FDA hoặc cơ quan FBI gần nhất những siêu thị
hay tiệm thực phẩm nào bày bán thực phẩm nhập cảng từ Việt Nam mà
trên bao bì không có ghi ngày quá hạn (expiration date).
KMD: Anh Quang có ý kiến gì
không?
NMQ:
Thưa chị và quý thính giả, trở lại chuyện ô nhiễm hóa chất ở
Việt Nam thì ngày hôm nay, tôi có thấy một bản tin đăng trên báo
Tiền Phong ở Việt Nam cho biết, hiện nay ở Việt Nam, có 200 loại
thuốc trừ sâu với gần 700 tên gọi và trên 200 loại hóa chất dùng
làm chất phụ gia cho thực phẩm; nhưng thông tin về các hóa chất trên
không được kiểm soát chặt chẽ và có rất nhiều hóa chất được sử
dụng mà không rõ nguồn gốc. Bản
tin cho biết thêm là hậu quả của tình trạng nầy là số người có nguy
cơ mắc bệnh liên quan đến hóa chất như rối loạn nội tiết, ung thư,
bệnh phổi, bệnh ngoài da, sanh con quái dị ngày càng cao. Theo Bộ Y tế, hóa chất bảo vệ thực
vật là một trong mười nguyên nhân gây tử vong cao nhất, chỉ sau bệnh
phổi, bệnh cao huyết áp, và tai nạn lao động. Sự nguy hiểm nằm ở chỗ chất độc không
chỉ xảy ra cho cơ thể qua đường hô hấp, ăn uống, mà còn qua da. Ở nước ta [Việt
KMD: Thưa các anh, sau khi phân tích thì chúng
ta đã thấy tình hình ô nhiễm ở Việt
NMQ: Chắc chị và quý thính giả còn nhớ,
trong lần nói chuyện trước đây của anh em chúng tôi vào ngày 1 tháng
2 năm 2002, tôi có đề cập đến vấn đề chuyển đạt thông tin về trong
nước để đồng bào của chúng ta nhận thức được tầm quan trọng cũng
như sự nguy hiểm của các hóa chất mà họ đang sử dụng. Anh em chúng tôi nghĩ rằng chúng ta ở
hải ngoại chỉ có thể làm được tới mức độ đó thôi. Trong một chừng mực nào đó, tôi nghĩ
việc làm đó đã gây được tiếng vang ở trong nước. Gần đây, những tin tức liên quan đến ô
nhiễm hóa chất, ngộ độc thực phẩm, ô nhiễm môi trường, v.v. được
phổ biến rộng rãi trên báo chí trong nước rất có thể là một thành
quả của anh em chúng tôi đang làm ở hải ngoại nầy, thưa chị.
KMD:
Xin anh Truyết tiếp lời.
MTT: Không biết vì lý do nào đó mà những
thông tin về hóa chất độc hại và nhiễm độc thực phẩm ở Việt
KMD:
Như vậy, TS Mai Thanh Truyết có ý nói là
người dân phải tự vùng dậy, phải không?
MTT: Thưa chị, tôi không có ý
kiến về câu hỏi nầy.
KMD: Thưa hai anh, chúng ta chỉ còn khoảng 6
phút nữa. Các anh còn có tâm tư
hay điều gì muốn gởi đến quý thính giả của đài TNVNHN ở miền Đông
và Trung Hoa Kỳ hay không?
MTT:
Thưa chị, chúng tôi có rất nhiều.
Chúng tôi, chẳng những muốn gởi đến quý thính giả của đài ở
Hoa Kỳ, mà thực sự, còn mong mỏi hơn để được nhắn gởi đến đồng bào
đang sống ở trong nước. Thưa chị,
vấn nạn ô nhiễm môi trường đang xảy ra ở trong nước là một vấn nạn
chung của người dân Việt
NMQ:
Thưa quý thính giả và chị KMD, riêng đối với tôi, tôi nhìn vấn
đề qua hai mặt: tiêu cực và tích cực.
Tôi rất bi quan khi đọc những bản tin và những con số thống kê
mà báo chí Việt Nam loan tải về tình hình ô nhiễm môi trường ở Việt
Nam nói chung. Thí dụ như trong năm 2001, đã có 6.962 vụ nhiễm
độc thuốc bảo vệ thực vật, trong đó có 613 trường hợp nhiễm độc
nặng với 187 người chết. Những con
số đó là những con số hết sức bi quan!
Ngày hôm nay (22/3), tôi đọc được một bản tin như sau: “Hiện nay
thì thác Cam Ly ở Đà Lạt đã được xếp vào loại thắng cảnh thiên
nhiên bị ô nhiễm trầm trọng nhất.”
Đây là một trong những dấu hiệu cho thấy tình trạng ô nhiễm
môi trường đã lan tràn khắp nơi ở trong nước. Nhưng cũng qua những bản tin như thế,
tôi lại có những suy nghĩ rất lạc quan.
Lạc quan vì, ít ra, người dân trong nước và các phương tiện
truyền thông (báo chí) đã bắt đầu chú ý và loan báo những tin tức
như thế. Do đó, người dân trong
nước có cơ hội tìm hiểu thêm về sự nguy hiểm và tầm tác hại của
các hóa chất, để từ đó, họ phải tự tìm ra những biện pháp, nếu họ
không được hướng dẫn đúng mức, để bảo vệ cho bản thân và gia đình
khi họ phải sử dụng hóa chất trong việc sản xuất.
KMD:
Kính thưa quý thính giả, quý vị vừa nghe hai nhà khoa học, TS Mai
Thanh Truyết và KS Nguyễn Minh Quang, mạn đàm về
kết quả của hội nghị khoa học về chất da cam/dioxin được tổ chức ở
Hà Nội từ ngày 3 đến 6 tháng 3 vừa qua và về tình trạng ô nhiễm kể
cả ô nhiễm thực phẩm ở trong nước cũng như thực phẩm xuất cảng sang
Hoa Kỳ và Liên hiệp Châu Âu. Hội
nghị ở Hà Nội thì mang nhiều tính cách chính trị hơn là khoa học. Còn tình trạng ô nhiễm môi trường cũng
như nhiễm độc thực phẩm ở Việt
Trước khi nhường lời lại cho
TS Truyết và KS Quang, KMD xin gởi đến quý thính
giả một tin mới nhất. Ông Joe Dunn,
thượng nghị sĩ tiểu bang California, và phụ tá là ông Nguyễn Văn
Chuyên vừa bị chánh phủ Việt Nam thu hồi chiếu khán chỉ 10 tiếng đồng
hồ trước khi hai ông lên đường đến Việt Nam để nghiên cứu tại chỗ
tình hình trong nước. Đây là
một bằng chứng hùng hồn nữa nói lên sự thiếu vắng tự do và dân
chủ ở Việt
Thượng nghị sĩ Joe Dunn là
một luật sư nổi tiếng ở miền Nam California và là đại điện của khu
vực có đông người Việt sinh sống nhất của tiểu bang. Ông là chủ tịch của Ủy ban Nhiên liệu
Thượng viện và vận động rất đắc lực cho dự luật nhân quyền cho
Việt
MTT: Tôi, Mai Thanh Truyết, xin tạm biệt quý thính giả của đài TNVNHN ở miền
Đông và miền Trung Hoa Kỳ, và đặc biệt, quý thính giả ở trong
nước. Hy vọng có một dịp nào đó,
chúng tôi sẽ trình bày thêm những phương pháp truy tìm, phân tích, và
phương hướng giải quyết vấn nạn ô nhiễm arsenic ở ĐBSCL.
NMQ:
Tôi, Nguyễn Minh Quang, trước khi tạm biệt quý thính giả, xin
thành thật cảm ơn Ban Giám đốc đài TNVNHN ở Washington và chị KMD đã
dành cho anh em chúng tôi một cơ hội rất đầy đủ để trình bày những
chi tiết và nhận xét về hội nghị khoa học được tổ chức ở Hà Nội
vào đầu tháng 3 vừa qua cũng như một số ý kiến về tình hình ô nhiễm
hóa chất ở Việt Nam hiện nay.
Trước khi dứt lời, tôi cũng xin cảm ơn quý thính giả và chị KMD
đã lắng nghe phần trình bày của anh em chúng tôi. Xin kính chào quý thính giả và chị KMD.
KMD: Xin cảm ơn hai anh Mai Thanh Truyết và Nguyễn Minh Quang.
Kính chúc hai anh có một đời sống êm đềm bên cạnh người
thân và tiếp tục nghiên cứu, để hy vọng một ngày nào đó, những
nghiên cứu của các anh sẽ mang lại ích lợi cho người dân Việt Nam ở
trong nước một khi đất nước có tự do và dân chủ. Một lần nữa, KMD xin cảm ơn TS Mai Thanh
Truyết và KS Nguyễn Minh Quang và hy vọng sẽ
được gặp hai anh trên chương trình nầy trong những ngày sắp tới.
KhongHen032202.doc