MÙA THU VÀ HOA T̀NH
THƯƠNG
Trần Gia Phụng
Cuộc vượt biên
của người Việt sau năm 1975 là cuộc
xuất ngoại vĩ đại
nhất trong lịch sử Việt
Theo thống kê do Cao Uỷ
Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (United Nations High Commissioner
for Refugees = UNHCR) đưa ra năm 2000, được nhà
báo Giao Chỉ ghi lại trong bài Lịch sử 30
năm định cư tỵ nạn 1975-2005, nhật
báo Người Việt Online, ngày 1-4-2005, th́ cuộc vượt
biên vĩ đại nầy có thể chia làm bốn giai
đoạn: Thứ nhất,
ngay sau biến cố 30-4-1975 và vài tháng kế tiếp,
150,000 người bỏ nước ra đi, trong đó
130,000 qua Hoa Kỳ, 20,000 đến các nước Âu Châu và
các nước khác. Thứ nh́,
từ tháng 6-1975 đến 1979, tổng cộng 326,000
người Việt bỏ nước ra đi, trong đó
có 311,400 thuyền nhân, và 14,600 người đi bằng
đường bộ qua Cambodia, Thái Lan. Thứ ba, từ 1980 đến
1989 [trước thời điểm UNHCR ra lệnh khóa
sổ các trại tỵ nạn, không nhận người
vượt biên], khoảng 450,000 ra đi, gồm có 428,500
thuyền nhân và 21,500 người đi đường
bộ, đến các đảo Hồng Kông, Palawan (Phi
Luật Tân), Bidong (Malaysia), Galang (Indonesia), các trại ở
Thái Lan, rồi từ đó đi định cư khắp
thế giới. Thứ tư,
từ 1990 đến 1995, tức từ khi LHQ khóa sổ (1989)
cho đến lúc giải tán vĩnh viễn các trại
tỵ nạn (1996), số người ra đi vẫn
tiếp diễn, tổng cộng khoảng 63,100
người, trong đó 56,400 là thuyền nhân và 6,700
người đi đường bộ.
Số người tử
nạn trên bước đường vượt biên không
thể thống kê chính xác được.
Người ta phỏng chừng trong suốt thời
gian xảy ra các cuộc vượt biên, có khoảng từ
400,000 đến 500,000 thuyền nhân bỏ ḿnh trên biển
cả hay bị hải tặc bắt giết.
Vào tháng 3-2005, một phái
đoàn người Việt hải ngoại đến
thăm viếng các đảo Galang (Indonesia) và Bidong
(Malaaysia), nơi đại đa số thuyền nhân
Việt Nam sau 1975 đă đến tạm cư,
trước khi được đi định cư
tại một nước thứ ba. Hai hải
đảo nầy là nơi kỷ niệm đầu
đời lưu vong của người Việt hải
ngoại. Hải hùng trên
biển cả, vui sướng đến bến bờ
tự do, buồn đau nhớ quê hương xa tắp, và
lo âu cho cuộc sống mới... Cuộc
sống tạm bợ tại đây tuy ngắn ngủi
nhưng thật đầy kỷ niệm.
Phái đoàn thăm viếng
hai hải đảo nầy đă làm một việc
hết sức ư nghĩa là dựng tại Galang cũng
như tại Bidong, mỗi nơi một tấm bia,
vừa để tỏ ḷng tri ân nước sở tại
Indonesia và Malaysia đă cho tạm dung, đồng thời
để tỏ ḷng tưởng nhớ những
người đă chết trên đường vượt
biên. Kính
trọng, tưởng nhớ và biết ơn những
người đă chết là truyền thống từ ngàn
năm nay của người Việt. Chính v́ khoảng nửa triệu
người Việt đi t́m tự do đă hy sinh tính
mạng trên biển cả, nên cả thế giới kinh
hoàng, mở rộng ṿng tay nhân ái đón
nhận người Việt đến tỵ nạn.
Tuy nhiên, chỉ ba tháng sau
khi các tấm bia được dựng lên, vào tháng 6-2005,
một tin sét đánh đă làm cho người Việt ở
hải ngoại cũng như ở trong nước
giật ḿnh và phẫn nộ.
Đó là các tấm bia tưởng niệm thuyền
nhân Việt Nam tử nạn trên đường
vượt biên ở Bidong bị chính quyền sở
tại ra lệnh phá bỏ (tin ngày 16-6-2005), và tấm bia tưởng
niệm ở Galang đă bị khoét lấy đi (tin ngày
17-6). Sau đây là trích nguyên
văn bản tin tiếng Việt của đài BBC ngày
17-6-2005: ...Chính phủ Việt Nam đă than phiền với
Bộ Ngoại giao Malaysia, và sau đó, chính quyền trung
ương Malaysia đă yêu cầu chính quyền bang
Terengganu, tức là chính quyền chủ quản ḥn
đảo Bidong, phải dẹp bỏ tượng
đài. Một nguồn tin
của Bộ Ngoại giao Mă Lai nói rằng Việt Nam c̣n
đang bận rộn với lịch sử của họ,
và để bảo tồn bang giao tốt đẹp
với Việt Nam nên Malaysia quyết định tôn
trọng ư muốn của Hà Nội...
Bài nầy không đi sâu vào
vấn đề tấm bia tưởng niệm, những
cuộc lên tiếng phản đối, và những hứa
hẹn của nhà cầm quyền Indonesia và Malaysia tái xây
dựng tấm bia tưởng niệm, mà chỉ muốn
nhấn mạnh một điểm. Đó là đối với
những thường dân đào thoát khỏi Việt Nam
bị tử nạn, mà chế độ cộng sản
trong nước vẫn truy đuổi đến cùng,
trả thù hèn mạt, huống ǵ là đối với
những chiến binh Việt Nam Cộng Ḥa đă nằm
xuống ở nghĩa trang Biên Ḥa, hay những thương
phế binh VNCH c̣n sống sót sau năm 1975 ở trong
nước.
Người Việt
Tôi đă
được một người trong tổ chức NGO
[Non Government Organization = Tổ chức phi chánh phủ]
hướng dẫn đến trung tâm trị liệu
phục hồi cho người tàn tật ở Cần
Thơ. Tại
đây, tôi được gặp ông N. V. Công (73 tuổi,
thương phế binh của Việt Nam Cộng Ḥa)
khập khểnh bước đi bằng đôi nạng
gỗ đă quá cũ mèm mà ông ta đă sử dụng từ
năm 1973 đến bây giờ. Một người thương
phế binh khác là ông N. C. Hùng (53 tuổi) cụt cả hai
chân mà chẳng có một phương tiện nào khác
để di chuyển, ngoại trừ hai bàn tay. Muốn đi phải dùng hai bàn tay chống để lết. Cả ông Công và ông Hùng chẳng
được một cơ quan nào của nhà nước
giúp đỡ, phải kiếm sống bằng những
công việc như đan thúng, đan giỏ...
Sau khi tham quan nhiều
nơi tại miền
Nhóm NGO nầy c̣n kể thêm
rằng họ đă trao tặng các trung tâm trị liệu
phục hồi cho người tàn tật nhiều xe lăn, chân giả, nạng gỗ và
nhiều thứ khác. V́
thấy mức độ tàn tật của ông Hùng cần
phải đặc biệt giúp đỡ, nên tổ
chức của họ tặng riêng cho ông Hùng một
chiếc xe lăn. Tặng xong, họ
yên chí là từ đây ông Hùng không c̣n quá nhọc nhằn
như trước mỗi khi muốn di chuyển v́ đă
có phương tiện.
Tháng sau họ gặp trở lại ông Hùng, th́ vẫn
thấy ông ta lết đi bằng hai tay. Hỏi xe lăn đâu th́ ông Hùng
trả lời rằng đă bị nhà cầm quyền
địa phương tịch thâu, v́ cơ quan cho xe không
qua trung gian chính phủ, bắt phải đóng tiền
phạt mới được nhận xe, mà ông Hùng lấy
đâu ra tiền để đóng phạt Cuối cùng họ lại
phải bỏ tiền túi đóng phạt để
nhận xe lăn cho ông Hùng.
Sau biến cố 30-4-1975,
tất cả thương phế binh Việt Nam Cộng
Ḥa, từ những người liệt giường
liệt chiếu, đến những người thương
tật, què chân, cụt tay, và cả những thương
binh mù mắt, khập khiểng, sờ soạn bước
đi một cách thê thảm, bị đuổi ra khỏi
các bệnh viện, quân y viện trên toàn miền Nam, và khi
trở về địa phương, lại bị nhà
cầm quyền cộng sản đày đọa...
Cho đến nay, ba
mươi năm sau, CSVN vẫn c̣n giữ nguyên mối thù
cũ, vẫn đối xử bất công đối
với thương phế binh Việt Nam Cộng Ḥa, ngay
trước mắt những người ngoại
quốc. Đây
không phải là trường hợp riêng lẻ, mà là chủ
trương chính sách của đảng Cộng Sản
Việt
Tại Việt
Lời nói của bà
Nguyễn Thị B́nh, cựu Phó chủ tịch
nước, một cán bộ cao cấp của nhà cầm
quyền CSVN, đă xác định lại rơ ràng lằn ranh
nhân đạo Bắc Nam của chế độ CSVN,
chẳng những đối với những nạn nhân
chất độc màu da cam nếu có, mà c̣n đối
với tất cả những vấn đề liên quan
đến cuộc chiến đă qua, trong đó
đương nhiên có cả chuyện thương phế
binh Việt Nam Cộng Ḥa bất hạnh c̣n lại ở
Việt Nam. Do đó, mọi
người sẽ không lấy làm lạ về chuyện kư
giả Yashigata Yushi tường thuật cảnh phân
biệt đối xử đối với thương
phế binh Việt Nam Cộng Ḥa.
Về phía người
Việt ở hải ngoại, sau khi được an cư ở nước ngoài, nhiều
người bắt đầu gởi tiền về
để giúp đỡ gia đ́nh, thân nhân và bạn bè. Rồi sau đó, các
tôn giáo, các hội đoàn cùng nhau gởi về trợ
cấp, giúp đỡ các em mồ côi, các thương
phế binh và các gia đ́nh liệt sĩ.
Riêng về vấn
đề thương phế binh, trong thời gian 10
năm gần đây, Gia đ́nh Mũ Đỏ Hoa Kỳ
và Gia đ́nh Mũ Đỏ
Riêng tại Toronto, hàng
năm, những anh chị em thiện chí mở ra chiến
dịch HOA T̀NH THƯƠNG, vận động quyên góp,
để tiếp tay với Gia đ́nh Mũ Đỏ
trong công việc yểm trợ thương phế binh
ở quê nhà. Trong những
năm qua, anh chị em HOA T̀NH THƯƠNG làm việc
rất tận t́nh, cẩn trọng, tự ḿnh bỏ
tiền riêng để trang trải những chi phí cá nhân cho
công việc chung, công khai tài chánh rơ ràng tất cả
những số tiền thu được do quư vị
đồng hương ủng hộ, nên càng ngày càng
được hưởng ứng đông đảo, và
kết quả càng ngày càng khả quan.
Điều đặc
biệt, khi những chiếc lá maple tại Toronto bắt
đầu trở màu, đổi sắc, mà nói theo
Nguyễn Du là Rừng phong thu đă nhuốm màu quan san
(Kiều, câu 1520), báo hiệu trời đất đang
chuyển tiết và mùa thu bắt đầu trở về,
th́ HOA T̀NH THƯƠNG cũng sắp sửa đến
thời điểm trổ hoa kết trái.
Khác với các loại hoa
thiên nhiên, HOA T̀NH THƯƠNG Toronto không sống bằng
đất, bằng ánh sáng mặt trời, bằng không khí,
bằng nước, mà sống trong ḷng người,
bằng đức từ bi vô lượng, bằng t́nh bác
ái bao la, bằng sự tương trợ của tất
cả mọi người, th́ hoa mới có thể tốt,
trái mới có thể tươi, để gởi về
giúp đỡ anh em thương phế binh hiện c̣n khó
khăn ở trong nước.
Các anh em thương phế binh đă hy
sinh một phần thân thể trên chiến trường
để cho chúng ta sống c̣n. Dầu chúng ta có bù
đắp được bao nhiêu, cũng vẫn chưa
xứng đáng với sự hy sinh cao cả vô bờ
bến của anh em.
Mong rằng trong năm nay,
vào lúc 7 giờ tối Thứ Bảy 1-10-2005, bà con
đồng hương chúng ta sẽ cùng nhau họp mặt
đông đảo tại nhà hàng ACE PLACE (tức nhà hàng Sans
Souci cũ), số 821 Runnymede, Toronto, để cùng nhau chào
mừng HOA T̀NH THƯƠNG rộ nở. Hy vọng không phải chỉ có
một khóm HOA T̀NH THƯƠNG, mà sẽ có cả trăm,
cả ngàn HOA T̀NH THƯƠNG cùng nhau thi đua khoe sắc
tỏa hương, cùng nhau thơm ngát t́nh người, t́nh
đồng hương, và t́nh huynh đệ chi binh. Những HOA T̀NH THƯƠNG ở
xa, kể cả những HOA T̀NH THƯƠNG Ở CÁC
TỈNH THÀNH KHÁC, xin vui ḷng gởi chi phiếu đề
tên: The Family of Red Berets in
TRẦN GIA PHỤNG
(