“
Hội Khoa học
và Kỹ thuật Việt Nam
Tháng 04/2007
Lời Mở
Đầu
Mekong Ḍng Sông Nghẽn
Mạch (MK:DSNM)
là tựa đề một quyển sách của Nhà văn Bác
sĩ Ngô Thế Vinh (NTV) mới vừa được nhà
xuất bản Văn Nghệ Mới phát hành tại
California, Hoa Kỳ trong tháng 1 năm 2007. Qua “Lời Dẫn Nhập”
của tác giả NTV, đây là một “kư sự” bao gồm “...
những h́nh ảnh và các trang bút kư sống động
của tác giả viết về các chuyến đi... ‘quan sát
thực địa’ từ Vân
MK:DSNM không chỉ bao gồm
“những h́nh ảnh và các trang
bút kư” mà dường như c̣n mang cả một “thông điệp
riêng tư của tác giả” để cảnh báo rằng:
“Tiếp theo chuỗi những
con đập thủy điện khổng lồ Vân Nam
đă và đang gây tác hại trên đời sống của
hơn 60 triệu cư dân hạ nguồn, th́ sự cố
nầy [việc vận chuyển 300 tấn dầu từ
Chang Rai lên một giang cảng tỉnh Vân Nam] được
coi như một đ̣n giáng chí tử thứ hai trên sinh mệnh
của con sông Mekong, khi ḍng sông được khai thác sử
dụng như một thủy lộ chiến lược vận
chuyển dầu khí từ Trung Đông tiếp tế cho các tỉnh
vùng kỹ nghệ tây nam Trung Quốc thay v́ phải đi
qua eo biển Malacca.” Với
sự phụ họa của “Nhóm Bạn Cửu Long” (www.vietecology.org), những dự
án thủy điện và thủy vận mà Trung Hoa đă, đang,
và sẽ thực hiện trong lưu vực sông Mekong được
h́nh dung như là một thứ “chất độc da
cam/dioxin dă man” đă, đang, và sẽ tiếp tục gieo rắc
“hậu quả kinh hoàng” trên khắp ĐBSCL, cũng như chất
da cam đă bị cáo buộc là tác nhân của hầu hết
bệnh tật đang xảy ra trên khắp ba miền của
đất nước, từ ải Nam Quan cho đến mũi
Cà Mau. ”Cho dù chưa có dự án nào tới giai đoạn kết
thúc, nhưng nơi các quốc gia hạ nguồn và nhất
là Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) đă bắt đầu
chịu những hậu quả ‘nhăn tiền’: như những
cơn lũ bất thường trong mùa mưa... sông
Cửu th́ đang cạn ḍng, thêm ngập mặn, ngày càng ô
nhiễm và nguồn thủy sản thiên nhiên từ sông
vốn rất phong phú cách đây ba thập niên th́ nay
hầu như không c̣n đáng kể...”
Nếu MK:DSNM
cũng được viết theo dạng “... ‘dữ kiện tiểu thuyết- faction: facts &
fiction’, với một số ít nhân vật như những
h́nh tượng văn học và phần dự phóng là hư cấu [nhấn
mạnh của HKHKTVN] để
cùng với người đọc đi tới những
vùng đất, nơi có con sông Mekong hùng vĩ chảy
qua...” (giống như đàn anh của nó là Cửu Long Cạn Ḍng-Biển
Đông Dậy Sóng (CLCD-BĐDS)), chắc chúng ta sẽ cảm nhận
được cái “dân tộc tính” hào hùng của một
người dân Việt có “một ngàn năm đô hộ giặc
Tàu” lúc nào cũng canh cánh bên ḷng những “ưu tư” khi nh́n
về phương Bắc, cái “nhiệt t́nh” nóng bỏng của
một nhà hoạt động môi trường đầy
hoài nghi (skeptical environmentalist) lúc nào cũng canh cánh bên ḷng những
“quan tâm” về hậu quả của các dự án mà không màng
đến phúc lợi của chúng, cái “lăng mạn” cách mạng
của một nhà văn lớn lúc nào cũng canh cánh bên ḷng
những “dự phóng cho tương lai” trong t́nh huống bi
thảm nhất (worst-case scenario), và cái “ḷng nhân đạo” không
biên giới của một “lương y như từ mẫu”
lúc nào cũng canh cánh bên ḷng những “âu lo” cho an nguy không những
của cư dân mà c̣n cho cá Pla Beuk và Irrawaddy Dolphin ở “Lưu Vực Dưới.”
Thế nhưng MK:DSNM, dù không
phải là một “dữ kiện tiểu thuyết,” lại
có nhiều “thông tin” và dữ kiện rất chuyên ngành,
để “... qua các thông tin có
được ấy, để thấy rằng sự suy
thoái của con sông Mekong là do những bước ‘khai thác
tự hủy’ như một phản ứng dây chuyền
với tàn phá sinh cảnh, làm cạn kiệt nguồn tài
nguyên, gây ô nhiễm môi trường... tất cả đă
và đang diễn ra nhanh và sớm hơn dự kiến
của nhiều người.”
Liệu các thông tin và dữ kiện chuyên ngành trong MK:DSNM - mà quan trọng nhất là dữ kiện
thủy học - có đầy đủ, chính xác, và khả
tín (adequate, accurate, and reliable) để “dự phóng” như
tác giả NTV đă tŕnh bày hay không?
Trong phần “Thắt nghẽn
mạch sống – Trung Quốc ngăn sông,” chương
“Thay kết từ câu chuyện của ḍng sông,” tác giả
NTV viết: “Chiến
lược ngăn sông Mekong để xây 14 con đập
bậc thềm Vân Nam của Trung Quốc đă có từ
thập niên 70, đây có thể coi là một đ̣n giáng chí
tử trên mạch sống của ḍng sông. Trong ba thập niên vừa qua, Trung
Quốc đă ào ạt khai thác con sông Lan Thương [tên
Trung Quốc của con sông Mekong], bằng cách xây các
đập thủy điện khổng lồ chắn ngang
ḍng chính làm ảnh hưởng tới nguồn
nước, nguồn cá, nguồn phù sa và cả gây ô
nhiễm cho hạ nguồn.
Tuy chỉ mới có 2 con đập hoàn tất
[Mạn Loan 1500 MW, Đại Chiếu Sơn 1350 MW], 2 đang
xây [Tiểu Loan 4200 MW, Cảnh Hồng 1350 MW] trong dự án
Mười Bốn Con Đập Vân Nam, vậy mà chưa bao
giờ trong Mùa Khô, mực nước con sông Mekong lại có
thể xuống thấp đến như vậy. [H́nh
II] Ở một số nơi,
có những khúc sông hầu như cạn ḍng và đă trơ
đáy. Nguồn
cá và nông nghiệp đă trực tiếp bị ảnh
hưởng. Không chỉ
đơn giản v́ ‘thiếu mưa’, sự kiện sông
Mekong cạn ḍng năm 1993 mà không vào Mùa Khô, trùng hợp với
thời điểm Trung Quốc bắt đầu lấy
nước vào con đập thủy điện
đầu tiên Mạn Loan ngang ḍng chính sông Mekong trên Vân
Nam. Để có đủ
nước vận hành 2 đập thủy điện
Mạn Loan và Đại Chiếu Sơn, Trung Quốc đă
thường xuyên đóng các cửa đập khiến
mực nước sông đă xuống tới mức
thấp nhất. Tại Lào,
trong tháng 3/2004, tổ chức du lịch đă phải
hủy bỏ 10 chuyến du ngoạn trên sông chỉ v́
những khúc sông quá cạn.
Phía bên Thái Lan, Odd Bootha 38 tuổi,
anh lái đ̣ bến Chiang Khong Bắc Thái Lan đă phải
than thở: “Nếu Trung Quốc cứ xây thêm đập
th́ sông
Quả thật, khúc sông
Mekong ở ngay phía dưới đập Mạn Loan (Manwan)
đă “cạn ḍng” do việc trữ nước cho hồ
chứa vào năm 1993; nhưng đây có lẽ là thời
điểm duy nhất mà sông Mekong bị... “nghẽn
mạch.” Thật vậy, năm
2003, Kỹ sư Nguyễn Minh Quang (NMQ), một chuyên viên thủy
lợi quen thuộc với ĐBSCL và cũng là thành viên của
Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (HKHKTVN),
đă dùng mực nước đo đạc hàng ngày tại
trạm Chiang Saen để nghiên cứu ảnh hưởng
thủy học của các đập thủy điện ở
thượng nguồn. Ông kết
luận: “Dữ kiện đo
đạc từ 1961 đến 2000 cho thấy việc xây
cất và điều hành đập Manwan đă có ảnh
hưởng đáng kể đến t́nh trạng thủy
học (mực nước và lưu lượng) ở
trạm quan trắc Chiang Saen, cửa ngỏ của hạ
lưu vực sông
Mực nước đo
đạc hàng ngày tại trạm Chiang Saen từ 2001 đến
2006 cũng không có một dấu hiệu nào cho thấy sông
Mekong “cạn ḍng” trong tháng 3 năm 2004 như lời tác giả
NTV. Theo dữ kiện của Ủy
hội sông Mekong (MRC) (www.mrcmekong.org),
mực nước tại trạm nầy đă xuống
đến mức thấp nhất 0,88 m
vào ngày 27 tháng 3; thế nhưng mực nước nầy vẫn
c̣n cao hơn mực nước thấp nhất hàng năm quan
sát được từ năm 1960 đến 1986 khi mà các
đập ở thượng nguồn chưa được
xây cất. Trong khoảng thời
gian nầy, mực nước thấp nhất hàng năm tại
Chiang Saen giao động từ 0,22 m đến 0,81 m, cho
đến năm 1987 th́ đạt 0,97 m.
C̣n lời than thở của
anh lái đ̣ Odd Bootha ở bến Chiang Khong?
Trên phương diện thủy học, lời than thở
cũng chỉ là... lời than thở!
Những Cơn
Lũ Bất Thường ở ĐBSCL
“Nhóm Bạn Cửu Long” rất
chính xác nhưng tế nhị khi đánh giá những cơn lũ “bất thường” ở ĐBSCL trong mùa
mưa. Đây là những cơn lũ,
mà theo lời Phó giáo sư Đào Công Tiến (ĐCT), nguyên hiệu
trưởng trường Đại học Kinh tế, Thành phố
Hồ Chí Minh, “... vốn hiền lành trở nên hung tợn, tàn
phá nhiều hơn, xói lở sông ng̣i, khu dân cư” (TTCN. “Lũ ở đồng
bằng sông Cửu Long. Đề pḥng tác hại lâu dài của đê bao.” Báo Tuổi Trẻ ngày 15 tháng 10 năm 2005). Nhưng gán cho “những con đập thủy điện khổng
lồ [của Trung Hoa] chắn ngang ḍng chính sông
Trên thực tế, không ai có
thể chối căi rằng t́nh h́nh lũ lụt ở ĐBSCL càng
ngày càng trở nên “bất thường” sau tháng 4 năm
1975; nhưng chưa có một nghiên cứu khoa học nào liên
kết “t́nh trạng bất thường” với việc xây
cất và điều hành các đập thủy điện
ở thượng nguồn sông Mekong. Ngược lại, kết quả
nghiên cứu năm 2003 của NMQ cho thấy: “Ảnh hưởng của
việc xây cất và điều hành đập thủy
điện Manwan đối với t́nh trạng thủy
học ở trạm Chiang Saen th́ chưa nhận thấy
ở trạm Tân Châu và Châu Đốc, là hai trạm quan
trắc cuối cùng của hệ thống trạm quan
trắc trong hạ lưu vực sông Mekong. Nhận xét nầy
phù hợp với sự liên kết rất lỏng lẽo
(very weak correlation) giữa mực nước ở hai
trạm Chiang Saen và Tân Châu.
Hệ số liên kết (correlation coefficient) giữa
hai trạm Chiang Saen và Tân Châu là 0,46 cho
mực nước cao nhất hàng năm và 0,12 cho mực
nước thấp nhất hàng năm. Sự liên kết
được xem là hoàn hảo nếu hệ số liên
kết bằng 1.”
Nhưng có dấu hiệu
cho thấy “t́nh trạng bất thường” của lũ
lụt ở ĐBSCL có liên hệ đến việc xây cất
và điều hành các đập thủy điện trên cao
nguyên miền Trung, Việt Nam như đập Yali và Se San
3. “Thí dụ
như việc xả lũ từ đập thủy
điện Yali ở Việt
Một sự kiện “bất
thường” đă đi vào lịch sử lũ lụt ở
ĐBSCL và được tŕnh bày trong bài viết năm 2006 của
NMQ: “Một
sự kiện thủy học nổi bật
được quan sát lần đầu tiên trong lịch
sử, đó là, trong 23 trạm của hệ thống
đo đạc thủy học ở hạ lưu vực
sông Mekong, do Ủy hội sông Mekong điều hành, chỉ
có 5 trạm có mực nước vượt quá mức báo
động do Ủy hội ấn định trong năm 2005. Đó là các trạm Thakhek và Pakse ở
Lào, Mukdahan ở Thái Lan, và Tân Châu và Châu Đốc ở
Việt
Nếu những con đập
thủy điện khổng lồ ở Vân
Cửu Long Cạn Ḍng?
Ở nhiều nơi trong MK:DSNM,
tác giả NTV tŕnh bày một số “thông tin” và “dữ kiện”
thủy học để minh chứng rằng những con
đập thủy điện ở Vân Nam chính là nguyên nhân
của t́nh trạng “sông
Cửu cạn ḍng” đang xảy ra ở ĐBSCL. Nhưng những thông tin và dữ
kiện nầy không phù hợp với các dữ kiện thủy
học đo đạc ở các trạm quan trắc hoặc
được công bố trong các tài liệu chuyên môn.
Trong phần “Con đập
đầu tiên, con đập lịch sử,” chương
“Tường tŕnh từ Vân
Trong phần “Mae Nam Khong – sông
Mẹ cạn ḍng,” chương “Lào PDR.Com đi ra từ lăng
quên,” tác giả viết: “Bây
giờ mới là giữa tháng Chạp [2000] - vừa hết
Mùa Mưa, chưa vào cao điểm Mùa Khô (khoảng tháng 4
tháng 5) vậy mà khúc sông Mekong chảy qua Vạn
Tượng như đă khô cạn với ngổn ngang
những cồn và băi... Ḍng
chảy của con sông Mekong nơi hạ lưu sẽ ra sao
khi cả chuỗi 14 con đập bậc thềm Vân Nam
(khởi đầu 7 nay 14) được hoàn tất trong
hai thập nhiên [niên] đâu của thế kỷ 21.” Rất tiếc, v́ thiếu dữ
kiện mực nước tại trạm quan trắc
Vientiane (Vạn Tượng), nên “thông tin” về mực
nước của khúc sông Mekong chảy qua Vạn Tượng
vào giữa tháng 12 năm 2000 mà tác giả NTV cung cấp không
thể được kiểm chứng một cách trực
tiếp. Tuy nhiên,
thông tin nầy có vẻ không trung thực nếu dựa trên
dữ kiện mực nước tại trạm Chiang Saen,
cách trạm
Trong phần “Ô nhiễm trên
những xa lộ nâu,” chương “Từ cầu Mỹ Thuận
2000 tới cây cầu Cần Thơ 2008,” tác giả viết:
“Có một hiện tượng
khách quan là ḍng chảy sông Cửu Long ngày càng yếu đi
ở nhiều khúc sông nhất là vào mùa khô, ḍng chảy
đo được ở Nam Vang chỉ c̣n 1,600 m3/giây thay
v́ 2,000 m3/giây như trước đây, khi xuống tới
ĐBSCL chắc c̣n yếu hơn.”
Tác giả không cho biết dữ kiện nầy
được trích dẫn từ đâu, nhưng theo tài liệu Report,
Analysis of Sub-Area 10V, Basin Development Plan (Viet Nam National Mekong
Committee. November 2003), th́ “Trong mùa khô, lưu lượng ở ĐBSCL rất
thấp. Lưu lượng
trung b́nh hàng tháng tại
Có một “sự cố” thủy
học lịch sử khác hiện đang xảy ra ở ĐBSCL
mà có lẽ tác giả NTV chưa được biết: mực
nước trong mùa khô tại Tân Châu và Châu Đốc tụt xuống
thấp một cách “bất thường” kể từ năm
2001 cho đến nay! Dữ kiện
đo đạc của MRC cho thấy mực nước thấp
nhất hàng năm dao động từ 0.00 đến -0.23
m tại Tân Châu (so với mực nước thấp nhất
trung b́nh 0.27 m trong khoảng 1979-2000) và từ -0.11 đến -0.39 m tại Châu
Đốc (so với mực nước thấp nhất trung b́nh
0.18 m trong khoảng 1979-2000). Nhưng
sự kiện nầy th́ không thể cáo buộc là do các
đập thủy điện ở Vân Nam gây ra, v́ mực
nước thấp nhất hàng năm tại Chiang Saen vẫn
duy tŕ từ 0.88 đến 1.30 m, cao hơn mực nước
thấp nhất trung b́nh 0.70 m trong khoảng 1960-2000. HKHKTVN đang tiếp tục theo dơi và nghiên cứu để t́m hiểu
nguyên nhân.
Thay Lời
Kết
Phải khẳng định
rằng, không một ai có thể phủ nhận nhiệt t́nh
của tác giả NTV với ḍng sông
Trong MK:DSNM, chúng ta thấy
nhiều chi tiết và lập luận giống như những
chi tiết và lập luận trong tài liệu River at risk: the Mekong and the water
politics of Southeast Asia (RAR) do Tiến sĩ (TS) Milton Osborne
soạn cho Viện Chánh sách Quốc tế Lowy (Lowy Institute
for International Policy) ở Australia vào năm 2004. Đây không phải là một ngạc
nhiên, v́ quyển CLCD-BĐDS cũng có một số chi tiết,
lập luận, và cách tŕnh bày giống như quyển The
Trong RAR, TS Osborne tŕnh bày “ưu
tư” của ông về t́nh trạng “bất thường”
của mực nước sông Mekong ở Thái Lan và Lào trong
tháng 3 năm 2004 dựa trên các “thông tin và dữ kiện” đăng
tải trên báo The Nation (Bangkok),
Asia Times Online, News Scientist, The
Bangkok Post, The South China Morning Post, The Economist, và The Guardian. Theo các thông tin và dữ kiện nầy
th́ các con đập thủy điện ở Vân
MK:DSNM, phương tiện
chuyên chở “thông điệp riêng tư của tác giả”
- một giấc mộng lớn - để cảnh báo với
mọi người rằng các con đập thủy điện
khổng lồ trên sông Lan Thương ở Trung Hoa đă, đang,và
sẽ làm cho sông Mekong “nghẽn mạch” ở Vân Nam và “cạn
ḍng" ở Tân Châu và Châu Đốc.
Qua lăng kính thủy học, giấc
mộng lớn đó có lẽ chỉ là... một giấc mộng
lỡ!
VASTS
MekongNghenMachQuaLangKinhThuyHoc.doc