Hội Nghị Quốc Tế Về Chất Da Cam Tại Paris
Mai Thanh
Truyết
Vào ngày 11 và 12 tháng 3 năm 2005,
tại pḥng họp Clémenceau, Paris 6è thuộc Thượng
viện Pháp đă diễn ra hội nghị có tên là “
Hội nghị Quốc tế về ảnh hưởng
của các hóa chất khai quang ở Việt Nam (1961-1971)”.
Hội nghị đă được dự trù
trước đây do Hội Thân
hữu Pháp Việt đứng ra tổ chức và bảo
trợ. Thuyết tŕnh viên đă
được chọn lọc trước trong các nhân
vật quen thuộc trong lănh vực liên quan đến hóa
chất khai quang trong chiến tranh Việt Nam
trước đây. Riêng
về phía quan khách cũng được chọn lọc
kỹ và phải có giấy mời tham dự. Trên
danh sách, có khoảng 500 khách được mời, nhưng
chỉ có độ 300 quan khách tham đự trong ngày
đầu, và chỉ c̣n lại 130 trong ngày thứ hai
cũng là ngày bế mạc hội nghị. Cũng cần
nên biết thêm là Hội nghị cũng đă
được 34 nhân vật có tiếng tăm trong đó có
GS Chu Phạm Ngọc Sơn, thuộc Đại học Khoa
học Sàig̣n trước đây, và 24 Hội đoàn “bè bạn”
khắp năm châu bảo trợ.
Ngay trong
buổi khai mạc, TS Monique Chemillier Gendreau tuyên bố
với phát biểu như sau:” Làm sao đấu tranh chống
lại sự không hiểu biết”. Chương tŕnh bắt
đầu sau đó với các buổi thuyết tŕnh xoay
quanh các chủ đề:
1- Lịch sử chiến
tranh hóa học với 2 đề tài về “Hoàn cảnh
xử dụng vũ khí hóa học” do C.Fourniau (Pháp) và
“Lời kể của chứng nhân” do TS Phan Thi Phi Phi,
vừa là GS vừa là nạn nhân hiện diện trong
vụ tranh tụng giữa Hội NNCĐDCVN và 37 công ty Hoá
chất Hoa Kỳ tại ṭa án Brooklyn ngày 28/2/2005. TS Phi Phi áp
dụng phương pháp chuyện kể đường
đời (recits de vie) để “truy tầm” nạn nhân
chất da cam ở Việt Nam.
2-
Chủ đề
2 là “T́nh trạng vệ sinh và thống kê việc lây
nhiễm” gồm 4 thuyết tŕnh viên với các đề
tài sau:
-
T́nh trạng
các nơi bị nhiễm độc dioxin do BS Trần Xuân
Thu với lời phát biểu độc đáo là không
cần chứng minh sự hiện diện của dioxin
trong máu cũng có thể kết luận được là
nạn nhân của chất độc da cam;
-
Nồng
độ dioxin trong cơ thể con người, thực
phẩm, và môi trường do BS Schecter, Dallas, HK;
-
Thống kê
lâm sàng về việc nghiên cứu lây nhiễm do BS
Nguyễn Thị Ngọc Phượng, Giám đốc
bịnh viện Từ Dũ đăm trách;
-
Những khía
cạnh khác như tâm lư, trị liệu do TS Doray, Pháp.
3-
Chủ đề
thứ 3 là “Ảnh hưởng lên hệ sinh thái và viễn
ảnh cải thiện môi trường” gồm 2
đề tài:
-
Ảnh
hưởng lên hệ sinh thái và hậu quả do BS Vơ Quư
tŕnh bày và;
-
Các
điểm nóng của sự lây lan, di sản của các căn cứ HK
do TS Dwernychuk thuộc công ty Hatfield, Canada.
Qua ngày thứ hai, hội nghị bàn về
Hậu quả kinh tế và xă hội cùng những khía
cạnh pháp lư của vụ kiện, gồm 6 đề
tài, trong đó có hai đề tài quan trọng là:
- Hậu quả xă hội do BS
Nguyễn Trọng Nhân, Phó Chủ tịch Hội NNCĐDCViệt
Nam
và;
-
Chất da
cam và luật pháp quốc tế nhân đạo do Iagolnitzer,
Pháp, tŕnh bày.
Sau cùng, kết thúc là phần thảo
luận và đúc kết với “Lời kêu gọi
đến các quốc gia và cơ quan quốc tế” về
t́nh trạng hiện có của 4,8 triệu nạn nhân ở
Việt Nam.
Thiết
nghĩ, mục tiêu từ đầu của hội
nghị nầy là cố gắng vận động dư
luận quốc tế để yểm trợ và ủng
hộ cho vụ kiện của Hội NNCĐDCViệt Nam,
để từ đó có thể gây thêm áp lực tâm lư vào
phán quyết của ông chánh án. Ngay trong buổi tranh tụng ngày 28/2/2005, ông có tuyên
bố là sẽ đưa ra phán quyết trong ṿng vài
tuần tới. Chính v́ lư do đó mà Việt Nam cố tăng cường
sự vận động dư luận qua tham luận
của ĐT Vơ Nguyên Giáp, của Bà Nguyễn Thị B́nh...trước
khi hội nghị Paris
khai mạc. Cùng mục đích
trên, GS Phan Thị Phi Phi đă đi vận động
ở các thành phố và đại học HK sau khi dự
khán với tư cách nạn nhân trong vụ tranh tụng trước
khi qua Paris phó hội.
Nhưng ông chánh án đă công
bố vào ngày 10/3/2005 tuyên
bố hủy bỏ cuộc tranh tụng bằng một phán
quyết dài 233 trang, trong đó phần kết luận chỉ
vỏn vẹn như sau:” Sự khiếu tố của
các nguyên đơn là vô căn cứ chiếu theo luật
bản xứ của bất cứ quốc gia hay tiểu
bang nào hoặc bất cứ dạng thức nào của
luật quốc tế. Nội vụ
bị bác bỏ. Không bên nào được
bồi thường án phí và thù lao
cho luật sư. Nay ra lệnh.
Kư tên.: Jack B. Weisnstein”.
Phán quyết đă xảy r a
sớm hơn dụ trù, do đó hội nghị quốc
tế nầy đă diễn ra trong gượng gạo và
không c̣n tính hào hứng mà Việt Nam
đă dự tính và mong đợi.
Tất cả các đề tài
thảo luận trong hai ngày Hội nghị đă
được Việt Nam và một số khoa học gia bè
bạn công bố từ nhiều năm qua; qua đó, không
có thêm khám phá nào mới lạ mà chỉ là những lập
luận theo chiều hướng thuận lợi cho quan
điểm của Việt Nam trong vấn đề
nầy mà không trưng dẫn các bằng cớ khoa học
có tính cách thuyết phục. Báo cáo Hatfield do TS Dwernychuk trong
nghiên cứu mức nhiễm độc chất da cam lên con
người và thực phẩm ở A Lưới và A Sho
phối hợp cùng với Ủy ban 10/80 của Việt Nam
đă được Hội Khoa học & Kỹ
thuật Việt Nam tại Hoa Ky (VAST) đưa ra nhiều
phản biện. Cũng như nghiên cứu của BS
Schecter về thực phẩm bị nhiễm độc
dioxin ở Biên Ḥa đăng trong tạp chí JOEM ở HK cũng
đă được chúng tôi đối đáp trên cùng
một tạp chí v́ kết luận của tác giả
chỉ dựa theo định kiến ban đầu hơn
là suy luận từ những kết quả đo
đạc được...
Có lẽ v́ không hài ḷng với
phán quyết của ṭa án, LS Kokkoris đă công bố tại
hội nghị Paris
như sau:” Bên cạnh ṭa án
luật pháp c̣n có ṭa án dư luận. Sự vận
động của ṭa án
dư luận đă bắt đầu trong chiến
tranh...Chúng tôi đă thắng ở ṭa án dư luận, và
tiếp tục gây sức ép, tiếp tục đấu
tranh”. Ông cũng tuyên bố tiếp về vụ tranh
tụng như sau:” Các công ty hóa chất HK đă trộn
chất độc dioxin vào chất Da cam, và chúng tôi đi
kiện chính v́ điểm nầy”. Để rối sau
cùng ông kết luận:”Kết quả ở ṭa án là một sự thất
vọng, nhưng chưa phải là thất bại”.
Do đó, trước sau
rồi Hội NNCĐDCViệt Nam
sẽ gữi đơn kháng án
lên Tối cao Pháp viện HK.
Trở lại vụ kiện
vừa rồi, một trong những biện pháp để
giải quyết vấn đề đă được Hội VAST tŕnh bày
nhiều lần trên nhiều diễn đàn khác nhau. Đó là chúng tôi luôn quan niệm và
cổ súy việc hợp tác nghiên cứu giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong
việc giải quyết toàn bộ vấn nạn nhiễm
độc mà môi trường Việt Nam
đang phải gánh chịu.
Trong Biên bản ghi nhớ
đă được HK và Việt Nam
kư kết ngay sau khi Hội nghị Quốc tế về Dioxin
ở Hà Nội vào tháng 3/2002 có ghi những điều khoảng
sau đây:
-
Hai phía cùng
hợp tác nghiên cứu ảnh hưởng lên con
người và môi trường ở hai nơi đă bị
phun xịt nhiều nhất là vùng Mă Đà (B́nh Dương)
và Đà Nẵng;
-
Hoa Kỳ
sẽ trợ giúp viện trợ kỹ thuật cũng
như huấn luyện nhân sự chuyên môn trong lănh vực
phân tích cao cấp nầy, cùng trao đổi các kết
quả nghiên cứu có được.
Sư
hợp tác qua kư kết nầy chưa hề
được bắt đầu cho đến khi xảy
ra vụ kiện. Chúng tôi nghĩ, vụ kiện
do Việt Nam đưa ra trong thời điểm nầy
để cố t́nh dựng lại không khí chiến tranh
lạnh trong bang giao quốc tế, thiếu hợp lư v́
không trưng dẫn được chứng cớ khoa
học có tính thuyết phục, phí phạm công sức trong
khi nhu cầu phát triển của Việt Nam phải chiếm
ưu tiên hàng đầu. Do đó, người Việt dù
ở nội địa hay hải ngoại cần phải
sáng suốt, đề cao cảnh giác để không bị
lung lạc về mặt t́nh cảm để nhận
diện rơ ràng tính cách chính trị hay nhân đạo trong
vụ tranh tụng nầy.
Sau cùng thiết nghĩ
quyết định của Việt Nam vẫn chưa
muộn là trở lại với kư kết ban đầu
của Hội nghị Hà Nội 2002 để hai phía có
điều kiện và căn bản pháp lư trong hợp tác và
truy t́m nguyên nhân đích thực của vấn nạn môi
trường ở Việt Nam. Có
được như vậy, mới có thể thực
sự biết được nguyên nhân của nỗi đau
của nạn nhân hơn là làm sống lại một sự
kiện lịch sử đă đi vào quên lăng từ lâu.
Mới đây, thêm một tia hy vọng mới qua
lời tuyên bố của phát ngôn viên Lê Dũng thuộc
bộ Ngoại giao Việt Nam vào ngày 21/3 là:”
Việt Nam
sẳn sàng hợp tác nghiên cứu khắc phục hậu
quả chất độc da cam”. Căn cứ vào Biên
bản ghi nhớ vừa nêu trên, chúng tôi mong mơi sự
kiện sẽ là một sự thật trong một
tương lai rất gần và một cuộc nghiên
cứu toàn diện ảnh hưởng của những hóa
chất độc hại lên môi trường và con
người ở Việt Nam
sẽ được thực hiện nghiêm chỉnh.
Mai Thanh
Truyết
VAST 4/2005