GÓP Ư VỚI
TIẾN SĨ NGUYỄN VĂN TUẤN VỀ VẤN ĐỀ
CHẤT MÀU DA CAM, DIOXIN VÀ HỆ QUẢ
Hội Khoa học
và Kỹ thuật Việt Nam (VAST)
Tháng 7 năm 2008
MỞ ĐẦU
Tờ Việt
Tide, một tuần báo phát hành tại Orange County, California và
Houston, Texas, trong số 350, Mar. 28th – Apr. 03rd, 2008, với
chủ đề “Agent Orange: Lá bài của Hà Nội
đối với Washington,” có đăng tải một bài
phỏng vấn của Đinh Quang Anh Thái (ĐQAT) với Tiến
sĩ (TS) Nguyễn Văn Tuấn có tựa đề
“Về Vấn đề Chất màu Da cam, Dioxin và Hệ
quả.” [1] Có lẽ v́ không “hài ḷng” với
Việt Tide về bài phỏng vấn nên TS mới cho
đăng lại trên blog của ḿnh vào ngày 3 tháng 7 năm
2008 với tựa đề “Chất độc Da cam và Việt
Nam” cùng lời bạt như sau: “Lúc
vụ kiện chất độc da cam ở vào thời
‘cao điểm’ (đầu năm nay) đào [đài] Little
Saigon ở Bolsa phỏng vấn tôi về những luận
điểm đằng sau vụ này, và sau đây là trả
lời của tôi. V́ ở xa nên tôi không có dịp theo dơi
họ phát thanh hay đăng báo ra sao, nhưng tôi vẫn
đăng lại để bạn đọc có vài thông
tin về vấn đề này.” [2]. Hội Khoa học và Kỹ thuật
Việt Nam (VAST) xin mạn phép góp ư với TS, trên lănh vực
khoa học kỹ thuật, về một vài điểm
trong bài phỏng vấn “Chất độc Da cam và Việt
Nam;” v́ chúng tôi tin rằng, đó mới là quan điểm
trung thực và chính xác của TS.
CHẤT
ĐỘC DA CAM?
Điểm nổi
bật và quan trọng nhất mà TS không hài ḷng có lẽ là việc
ĐQAT dùng danh từ “chất màu da cam” thay cho danh từ “chất
độc da cam” mà TS thường dùng, kể cả đề
tựa của cuốn sách có “tầm vóc lịch sử (sic)”
Chất độc Da cam, Dioxin
& Hệ quả [3]. Nhưng
trên phương diện ngôn ngữ học và độc tố
học, danh từ “chất độc da cam” dường như
không chính xác.
Danh từ “chất
độc da cam” dường như được TS dùng
để dịch danh từ “agent orange (AO)” trong tiếng
Anh sang tiếng Việt. Theo Tự
điển Anh Việt của Nguyễn Văn Khôn th́ chữ
“agent” có nghĩa là “tác nhân,” c̣n chữ “orange” có nghĩa là “màu
cam hay màu da cam.” Do đó, AO phải
được dịch một cách chính xác là “tác nhân màu cam”
hay “tác nhân màu da cam.” Để cho
ngắn gọn, chữ “chất” thường được
dùng thay cho chữ “tác nhân;” cho nên, AO có nghĩa là “chất da
cam” hay “chất màu da cam.”
Như chúng ta
đă biết, chất da cam là một loại thuốc khai
quang hay diệt cỏ (herbicides) thông dụng và được
sử dụng nhiều nhất trong cuộc chiến Việt
Nam. Loại thuốc khai quang nầy
là một hỗn hợp 50/50 của hai loại thuốc diệt
cỏ 2,4-dichlorophenoxyacetic (2,4-D) và 2,4,5-trichlorophenoxyacetic
(2,4,5-T), là hai loại thuốc diệt cỏ rất thông dụng
được sử dụng rộng răi trong nông nghiệp
ở Hoa Kỳ và nhiều quốc khác trên thế giới. Thuốc được gọi là
chất da cam v́ nó được đựng trong những thùng
55 gallons có sơn một sọc màu da cam rộng 4 inches ở
giữa và chung quanh thùng để phân biệt với những
loại thuốc khai quang khác.
Phúc tŕnh Cựu chiến
binh và Chất da cam - Cập nhật 2006 của Viện
Y khoa Hoa Kỳ (Institute of Medicine (IOM)) (Phúc tŕnh Cập nhật
2006) cho biết, “Các nghiên
cứu về ảnh hưởng của 2,4-D và 2,4,5-T
được công bố sau Phúc tŕnh Cập nhật 2004 th́
phù hợp với kết luận từ trước là hai hóa
chất nầy không phải là chất độc cấp
tính và có khả năng gây ung thư rất yếu (Studies of
effects of 2,4-D and 2,4,5-T published since Update 2004 are consistent with
the earlier conclusion that these chemicals are not acutely toxic and have only
weak carcinogenic potential).” [4]
Trong tiến tŕnh
sản xuất, 2,4,5-T có thể chứa một số
lượng rất nhỏ chất ô nhiễm bất đắc
dĩ. Đó là chất
2,3,7,8-tetrachlorodibenzo-p-dioxin (TCDD hay dioxin), được xem
như là một chất độc. Nhưng không phải v́ thế mà gọi
AO là “chất độc da cam,” cũng như chúng ta không thể
gọi vaccine là chất độc v́ nó có chứa một
lượng rất nhỏ chất độc thủy ngân! Và cũng không phải v́ thế mà
có thể đồng hóa chất da cam với dioxin.
CHẤT
ĐỘC DA CAM HAY DIOXIN LÀ NGUYÊN NHÂN GÂY RA BỆNH TẬT Ở
VIỆT NAM?
Khi được hỏi về
những bằng chứng khoa học cho thấy hệ quả
của chất da cam gây ra cho người dân Việt Nam, TS
khẳng định rằng: “Cho
đến nay, Viện Y khoa Mĩ đă chính thức công
nhận chất độc da cam hay dioxin là nguyên nhân [nhấn
mạnh của VAST] gây ra
một số bệnh như ung thư tế bào mềm, ung
thư máu dạng Non-Hodgkin và Hodgkin, ung thư tuyến
tiền liệt, ban clor, chứng nứt đốt
sống, v.v. Tất cả bằng chứng khoa học
để Viện Y khoa đi đến kết luận
trên đây không chỉ dựa vào nghiên cứu từ cựu
quân nhân Mĩ, mà c̣n – một phần lớn – dựa vào
nghiên cứu từ các nước ở Âu châu (đặc
biệt là từ Thụy Điển và Ư), Úc, v.v…” [2]. C̣n trên Việt Tide th́ TS nói rằng:
“Dựa vào tiêu chuẩn
nầy, dioxin được xem là nguyên nhân [nhấn
mạnh của VAST] của các
bệnh sau đây: Ung thư bạch cầu măn tính (chronic
lymphocytic leukemia, CLL), ung thư mô mềm (soft-tissue sarcoma),
ung thư dạng phi Hodgkin (non-Hodgkin’s lymphoma), ung thư
dạng Hodgkin (Hodgkin’s disease), ban clor (chloracne).” [1]
Nhưng kết
quả nghiên cứu ghi trong Bảng S-1 của Phúc tŕnh
Cập nhật 2006 th́ không phù hợp với những
lời phát biểu vừa nêu của TS. Kết quả nầy được
tóm tắt như sau:
1.Đủ bằng chứng (sufficient
evidence) về sự liên hệ (association) giữa việc
tiếp xúc với 2,4-D, 2,4,5-T, hay dioxin và các bệnh trạng
sau đây:
i.
Soft-tissue
sarcoma (including heart)
ii.
Non-Hodgkin’s
lymphoma
iii.
Chronic
lymphocytic leukemia (CLL)
iv.
Hodgkin’s
disease
v.
Chloracne
2.
Bằng
chứng giới hạn hoặc gợi ư (limited or suggestive
evidence) về sự liên hệ giữa việc tiếp xúc
với 2,4-D, 2,4,5-T, hay dioxin và các bệnh trạng sau đây:
i.
Laryngeal
cancer
ii.
Cancer
of the lung, bronchus, or trachea
iii.
Prostate
cancer
iv.
Multiple
myeloma
v.
AL
amyloidosis (category change from Update
2004)
vi.
Early-onset
transient peripheral neuropathy
vii.
Porphyria
cutanea tarda
viii.
Hypertension
(category change from Update
2004)
ix.
Type
2 diabetes (mellitus)
x.
Spina
bifida in offspring of exposed people
3.
Bằng
chứng không thích hợp hoặc không đầy đủ
(inadequate or insufficient evidence) để xác định xem việc
tiếp xúc với 2,4-D, 2,4,5-T, hay dioxin có liên hệ đến
các bệnh trạng được duyệt xét sau đây:
i.
Cancers
of the oral cavity (including lips and tongue), pharynx (including tonsils), or
nasal cavity (including ears and sinuses)
ii.
Cancers
of the pleura, mediastinum, and other unspecified sites within the respiratory
system and intrathoracic organs
iii.
Esophageal
cancer (category change from Update
2004)
iv.
Stomach
cancer (category change from Update
2004)
v.
Colorectal
cancer (including small intestine and anus) (category change from Update 2004)
vi.
Hepatobiliary
cancers (liver, gallbladder, and bile ducts)
vii.
Pancreatic
cancer (category change from Update
2004)
viii.
Bone
and joint cancer
ix.
Melanoma
x.
Non-melanoma
skin cancer (basal cell and squamous cell)
xi.
Breast
cancer
xii.
Cancers
of reproductive organs (cervix, uterus, ovary, testes, and penis; excluding
prostate)
xiii.
Urinary
bladder cancer
xiv.
Renal
cancer
xv.
Cancers
of brain and nervous system (including eye) (category change from Update 2004)
xvi.
Endocrine
cancers (thyroid, thymus, and other endocrine)
xvii.
Leukemia
(other than CLL)
xviii.
Cancers
at other and unspecified sites
xix.
Infertility
xx.
Spontaneous
abortion (other than for paternal exposure to TCDD, which appears not to be
associated)
xxi.
Neonatal
or infant death and stillbirth in offspring of exposed people
xxii.
Low
birth weight in offspring of exposed people
xxiii.
Birth
defects (other than spina bifida) in offspring of exposed people
xxiv.
Childhood
cancer (including acute myelogenous leukemia) in offspring of exposed people
xxv.
Neurobehavioral
disorders (cognitive and neuropsychiatric)
xxvi.
Movement
disorders, including Parkinson’s disease and amyotrophic lateral sclerosis
(ALS)
xxvii.
Chronic
peripheral nervous system disorders
xxviii.
Respiratory
disorders
xxix.
Gastrointestinal,
metabolic, and digestive disorders (changes in liver enzymes, lipid
abnormalities, and ulcers)
xxx.
Immune
system disorders (immune suppression, allergy, and autoimmunity)
xxxi.
Ischemic
heart disease
xxxii.
Circulatory
disorders (other than hypertension and perhaps ischemic heart disease)
xxxiii.
Endometriosis
xxxiv.
Effects
on thyroid homeostasis
4.
Bằng
chứng giới hạn hoặc gợi ư về sự không
liên hệ (no association) giữa việc tiếp xúc với
2,4-D, 2,4,5-T, hay dioxin và các bệnh trạng sau đây:
i.
Spontaneous
abortion and paternal exposure to TCDD
Kết quả
trong Bảng S-1 trên đây cho thấy IOM chưa hề công
nhận chất da cam hay dioxin là “nguyên nhân” gây ra bất cứ
một bệnh tật nào, kể cả chloracne. IOM chỉ xác nhận mức độ
tin cậy của sự liên hệ giữa việc tiếp
xúc với chất da cam hay dioxin và các bệnh được
duyệt xét bằng các phương pháp nghiên cứu dịch
tễ học.
TS nói rằng IOM
“... đă chính thức công
nhận chất độc da cam hay dioxin là nguyên nhân gây ra
một số bệnh như... ung thư tuyến tiền
liệt [prostate cancer]... chứng nứt đốt sống
[spina bifida in offspring of exposed people]...” [2], nhưng theo Bảng
S-1, IOM vẫn chưa có đủ bằng chứng (chỉ
có bằng chứng giới hạn hoặc gợi ư) để
kết luận hai bệnh trạng nầy có liên hệ với
việc tiếp xúc với chất da cam hay dioxin.
Có thể TS cho rằng
“liên hệ là nguyên nhân,” nhưng trong dịch tễ học
th́ không hẳn như vậy.
“Dịch
tễ học là môn học nghiên cứu để t́m
hiểu xem bệnh tật trong các nhóm dân số của con
người và thú vật xảy ra như thế nào, ở
đâu, và lúc nào. Các chuyên gia
dịch tễ học cố gắng xác định các
yếu tố liên hệ đến bệnh tật (yếu
tố rủi ro (risk factors)) và các yếu tố có thể
giúp con người và thú vật chống lại bệnh tật
(yếu tố bảo vệ (protective factors))... Các nghiên cứu dịch tễ
học không bao giờ có thể chứng minh nguyên nhân
(causation); điều đó có nghĩa là, nó không thể
chứng minh rằng một yếu tố rủi ro nào
đó đích thực là nguyên nhân của bệnh tật
được nghiên cứu.
Bằng chứng dịch tễ học chỉ có
thể cho thấy rằng yếu tố rủi ro nầy
có liên hệ (kiên kết (correlated)) với việc bệnh
tật xảy ra nhiều hơn trong dân số tiếp xúc
với yếu tố rủi ro đó. Sự liên kết càng cao th́ sự
liên hệ càng chắc chắn, nhưng nó không thể
chứng minh là nguyên nhân.” [5]
KHÔNG
CẦN BẰNG CHỨNG TỪ VIỆT NAM!
Trong khi trả lời
về những bằng chứng khoa học cho thấy hệ
quả của chất da cam gây ra cho người dân Việt
Nam, TS phát biểu rằng: “... để đi đến một kết
luận về mối liên hệ giữa dioxin và bệnh
tật trong người Việt Nam, không ai lại ngớ
ngẩn đi hỏi phải có bằng chứng từ
Việt Nam; bằng chứng từ Mĩ hay Âu châu, một
khi đúc kết cho có hệ thống cũng đủ
để đi đến kết luận.” [2]
Về mặt
khoa học, chúng tôi, và có lẽ cả cộng đồng
khoa học thế giới nữa, muốn được
học hỏi phương pháp mà TS đă dùng để đi
đến một kết luận về mối liên hệ
giữa dioxin và bệnh tật trong người Việt Nam
mà không cần phải có bằng chứng từ Việt
Nam! Chúng tôi nghĩ rằng các nghiên
cứu bằng phương pháp dịch tễ học, cho dù
được đúc kết có hệ thống cách mấy,
cũng không thể áp dụng được v́ chúng
được thực hiện bằng dữ kiện khác
nhau trên các nhóm dân số khác nhau.
Về mặt pháp
lư, chúng tôi xin trích một đoạn trong Reference Manual on Specific Evidence để góp ư với
TS. “Dịch
tễ học quan tâm đến sự xảy ra của bệnh
tật trong các nhóm dân số (populations) và không đề cập
đến câu hỏi về nguyên nhân gây bệnh của cá
thể (cause of an individual’s disease).
Câu hỏi nầy, thỉnh thoảng được gọi
là nguyên nhân cá biệt (specific causation), nằm ngoài phạm
vi của dịch tễ học. Dịch tễ học đạt
đến giới hạn của nó sau khi xác định sự
liên hệ giữa một tác nhân và một bệnh tật là
nguyên nhân gợi ư (nguyên nhân tổng quát) và mức độ
rủi ro của tác nhân nầy; có nghĩa là, dịch tễ
học xem xét xem một tác nhân có thể gây ra một bệnh
tật hay không, chứ không thể xem xét xem một tác nhân
đă gây bệnh cho một nguyên đơn cá biệt.
Dù sao,
vấn đề nguyên nhân cá biệt là một yếu tố
tư pháp cần thiết trong một vụ kiện về
chất độc. Nguyên đơn
không những phải chứng minh rằng tác nhân của bị
đơn (defendant’s agent) có khả năng gây ra bệnh
(capable of causing disease) mà c̣n phải chứng minh rằng nó
đă gây bệnh cho ḿnh (did cause the plaintiff’s desease). Do đó, một số ṭa án bị
đặt trước câu hỏi pháp lư về tiêu chuẩn
cho bằng chứng của nguyên nhân cá biệt và vai tṛ của
bằng chứng dịch tễ học trong việc trả
lời câu hỏi pháp lư nầy.
Đây không phải là câu hỏi mà dịch tễ học có
thể trả lời.” [6]
SỐ
“NẠN NHÂN DA CAM” Ở VIỆT NAM
Khi được
hỏi về con số “nạn nhân da cam” ở Việt Nam,
TS cho biết: “Nhà nước
Việt Nam đưa ra con số nạn nhân là 1
triệu. Tôi nghĩ con số
đó hoàn toàn có cơ sở khoa học, nhưng thấp
hơn thực tế.” [2] TS cũng trích dẫn kết
quả nghiên cứu của TS Jeanne Mager Stellman, Đại học
Columbia nói rằng có “... 4,8 triệu
người phơi nhiễm độc chất,” và có lẽ
“nhất trí” với con số nầy v́ không có ư kiến.
Một lần nữa,
chúng tôi hy vọng TS có thể chia sẻ với chúng tôi và cộng
đồng khoa học quốc tế những cơ sở
khoa học mà TS đă dùng, hoặc nhà nước Việt
Nam đă dùng, để nói rằng con số nạn nhân da
cam ở Việt Nam là 1 triệu người. Chúng tôi cũng mong TS chia sẻ con
số nạn nhân mà TS gọi là “thực tế.” Nhưng dường như TS chưa
kịp cập nhật hóa (update) dữ kiện của ḿnh,
v́ trong buổi điều trần trước Tiểu ban Á
Châu, Thái B́nh Dương, và Môi trường Toàn cầu của
Hạ Viện Hoa Kỳ hôm 15 tháng 5 năm 2008, Hội Nạn
nhân Chất độc da cam/Dioxin Việt Nam cho biết con
số nạn nhân “trên 3 triệu.” Con số nầy phù hợp với
con số 3 triệu được TS Vaughan Turekian cho biết
trong buổi điều trần là do chánh phủ Việt
Nam cung cấp [7].
Ngay sau khi nghiên cứu
của Đại học Columbia được công bố, VAST
đă liên lạc với TS Stellman để t́m hiểu thêm
về kết quả nghiên cứu v́ “... chúng không phù hợp với dữ kiện do chính
bà ‘khám phá’ và có tính cách thổi phồng.” [8] Về con số 4,8 triệu
người được cho là bị phun trực tiếp
“... TS Stellman thừa nhận
rằng Bà ‘... phải tính hết cả ô cho an toàn [?]’ (59),
v́ theo cách tính của Bà, một xă ấp hay một
người được xem là tiếp xúc trực
tiếp (hay bị phun trực tiếp) với thuốc
diệt cỏ nếu xă ấp hay người đó
nằm trong một ô vuông có cạnh khoảng 1,1 km, cho dù xă
ấp hay người đó nằm ở gần một góc
của ô vuông và thuốc được phun ở gần
góc đối diện, cách xa nhau khoảng 1,5 km.” [8]
CHẤT
DA CAM GÂY DỊ TẬT BẨM SINH?
Khi được yêu cầu giải thích tại sao có nhiều sĩ quan và binh sĩ Quân đội Việt Nam Cộng Ḥa đă từng sống và sử dụng n