Việt
Bài phát biểu cho Hội
thảo VAST
ngày 25/8/2007 tại
Abstract: Six months after becoming a member of WTO,
Starting as a poor country enduring
years of war, and suffering over ten years of mismanaged economical reform,
In addition, as
This speech focuses on major issues
as well as challenges which VietNam needs to resolve promptly: 1- The state of
state-owned enterprises, 2- Monetary and banking system, 3- Local and foreign
investments, 4- Administration reform, 5-The need of labor power and
technologists, 6- capabilities of maritime transportation, 7- The up haul of
countrywide communication system, 8- Last but not least, the psychology and
response of its the people vis-a-vis globalization.
In other words,
Finally, the following ideas are
suggestions to help
·
Complete
abolishment of different forms of state subsidies;
·
Complete
transformation of the current administration system;
·
Replacement
of the concept of “free market with a socialist-oriented market mechanism” by
the practice of economic openness;
·
Determination
to reduce the gap between the classes by systematically fighting and ending
corruption at all levels of public service.

Vào ngày 11 tháng 1 năm 2007,
Việt
Cho đến nay (tháng 7,
2007), vừa hơn sáu tháng trong bước đường
hội nhập, quá tŕnh tiếp cận và hội nhập
trong khoảng thời gian ngắn ngũi nầy đă cho
chúng ta thấy một số điểm c̣n tồn đọng
cũng như những thách thức cho Việt
Nhận định
tổng quát
Biến cố tan ră của
Liên Xô đánh dấu sự phá sản của chủ nghĩa
Cọng sản quốc tế, chấm dứt t́nh trạng
đối đầu lưỡng cực giữa khối
Tự do và khối Cọng sản; từ đó đưa
đến sự h́nh thành một khuynh hướng chung của
thế giới, mệnh danh là “toàn cầu hóa”. Khuynh hướng
nầy được xem như là một sinh lộ tất
yếu của các nước đang phát triển và đặc
biệt là các quốc gia đă một thời đặt
ḿnh thuộc khối Cọng sản quốc tế, nếu
muốn tồn tại và phát triển trong t́nh h́nh mới.
Sự toàn cầu hóa bao gồm
toàn bộ các lĩnh vực văn hóa, xă hội, và
được chú ư nhiều nhất là lĩnh vực kinh tế.
Về lĩnh vực sau cùng nầy, nhu cầu toàn cầu
hóa bao gồm sự hội nhập của các nền kinh tế
quốc gia vào nền kinh tế quốc tế thông qua
thương mại, đầu tư ngoại quốc qua
những công ty quốc gia hay đa quốc gia, lưu lượng
vốn ngắn hạn, lưu lượng công nhân quốc
tế, lưu lượng công nghệ trao đổi, v.v...
Riêng đối với
nước Việt
Đứng về
phương diện phát triển kinh tế và xă hội
trong 10 năm đầu tiên sau 1975, hầu như tất cả
mọi người trong và ngoài nước đều đồng
ư xác định sự thất bại hoàn toàn của một
chính sách kinh tế tập trung rập khuôn theo cộng sản
Nga Tàu. Đây là một giai đoạn đen tối nhất
của lịch sử Việt

Cả nước đang phải theo con
đường... Bác Đi!
Đứng trước
nguy cơ diệt vong kề cận, năm 1986, CS Việt
Nam không thể chọn con đường nào kahc hơn là phải
áp dụng một chính sách kinh tế mở, nhưng vẫn
c̣n “bịn rịn” chưa mở hoàn toàn nên đă
đưa ra chiêu bài “kinh tế thị trường theo
định hướng xă hội chủ nghĩa” nửa vời.
Nhưng nhơ đó, người dân bắt đầu
được nới lơng hơn trong ṿng kềm kẹp,
nông dân được cấp quyền xử dụng mănh
đất của ḿnh dù là tạm bợ để tự
khai thác và tự cứu văn đời sống kinh tế của
gia đ́nh. Những năm tiếp theo sau đó, nguy cơ
tuy vẫn c̣n đầy rẫy khắp nơi, t́nh trạng
xă hội và kinh tế chung vẫn c̣n nhiều gập ghềnh,
chập chững trên bước đường phát triển
và hội nhập vào thế giới bên ngoài.
Măi đến tháng 12 năm
2001, khi Hiệp ước Thương măi hai chiều giữa
Việt Nam và Hoa Kỳ thành h́nh (US-VietNam Bilateral Trade
Agreement), kinh tế Việt Nam tương đối hồi
sinh và có thể nói đây là bước mở đầu tiện
của VN trên tiến tŕnh hội nhập vào Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO).
Cũng cần nói thêm về
những thông tin trao đổi kinh tế hai chiều giữa
VN và HK trong giai đoạn trước đây. Năm 1993,
VN hoàn toàn không xuất cảng hàng hóa vào nội địa
HK; ngược lại, VN nhập cảng 7 triệu Mỹ
kim thiết bị từ HK. Sau ngày 3 tháng 2, 1994, Tổng thống
Clinton, HK đă ra quyết định băi bơ lịnh cấm
vận thương mại cho VN; kể từ đó, VN bắt
đầu tăng dần việc xuất cảng sang HK lên
đến trị giá 50,5 triệu cho năm nầy.
Bảy năm sau khi hiệp
ước trao đổi hai chiều kư kết, hàng hóa VN gồm
thực phẩm, hàng may mặc, dầu thô, giày da, sản phẩm
gỗ nội thất ồ ạt vào thị trường
HK, và lượng hàng hóa tiếp tục tăng măi, từ 1
tỷ Mỹ kim năm 2001, lên đến 5,9 tỷ, năm
2005. Ngược lại, HK chỉ xuất cảng độ
1,2 tỷ vào VN trong năm 2005, gồm dụng cụ y khoa,
máy móc kỹ thuật và dụng cụ hàng không. Trong năm
2006 trao đổi giữa hai đối tác tăng lên 8,7 tỷ.
Đây cũng là những chỉ
dấu ban đầu cho VN lần lần thực hiện
tiến tŕnh gia nhập vào Tổ chức Thương mại
Thế giới. Và Việt
Tổ chức
Thương mại Thế giới Ġ
Tổ chức Thương
mại Thế giới hay World Trade Organization-WTO, có trụ sở
đặt tại Thụy Sĩ đă được thành lập
chính thức vào ngày 1/1/1995 do các quốc gia thành viện kư tại
thành phố Marrakesh, Marocco. Tính đến nay, Tổ chức
nầy tập hợp được 149 quốc gia thành
viên nhắm vào những mục tiêu sau đây:
-
Quy
định những căn bản pháp lư làm nền tảng
cho mọi trao đổi thương măi quốc tế;
-
Tổ
chức là diễn đàn đàm phán, thỏa thuận,
thương lượng về tất cả mọi dịch
vụ thương mại giữa các quốc gia thành viên.
Cũng từ ngày 1/1/1995, VN
đă nộp đơn xin gia nhập vào tổ chức trên
và trở thành quan sát viện của tổ chức. Nhóm công
tác WTO cũng đă được thành lập và có nhiệm
vụ cứu xét đơn xin gia nhập của VN.
Tính đến nay, VN đă
trả lời trên 2.600 câu hỏi từ các thành viên, và
đă kết thúc đàm phán song phương với 21 quốc
gia.
Đối với HK,
văn kiện chính thức giữa hai bên đă được
kư kết vào ngày 31/5/2006 thỏa thuận trên nguyên tắcvề
khả năng tiếp cận thị trường song
phương; từ đó sẽ giúp hai bên tái lập hàng rào
thuế quan cho những mặt hàng kỹ nghệ và nông phẩm,
cùng dịch vụ.
Kết quả là hàng hóa xuất
cảng từ HK vào VN như trang thiết bị xây dựng,
dược phẩm, phi cơ và các bộ phận rời bảo
tŕ sẽ chịu thuế suất là 15% hay ít hơn. Về
dịch vụ, VN cũng đă cam kết mở cửa một
số lănh vực cấm kỵ từ trước như
viễn thông và viễn thông vệ tinh, lănh vực tài chính,
ngân hàng, và năng lượng cho HK nhún tay vào.
Một khi đă vào WTO, VN cần
phải tuân thủ những tính chất pháp trị như:
1- giải quyết tranh chấp; 2- giảm bớt vai tṛ của
mậu dịch quốc doanh; 3- hủy bỏ những giới
hạn nhập cảng của các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài qua quyền thương mại;
4- hủy bỏ những quy chế kinh tế phi thị
trường. Ngược lại, HK sẽ áp dụng kinh tế
phi thị trường trong các vụ kiện chống phá
giá cho đến khi VN ra khỏi nền kinh tế phi thị
trường. Thời gian chuyển tiếp cho chính sách nầy
là 12 năm sau khi VN gia nhập vào WTO. Và sau cùng, VN phải
tuân thủ quy tắc và luật bảo vệ sở hữu
trí tuệ.
Để có một khái niệm
về kết quả của việc gia nhập vào WTO trong
những năm vừa qua của các quốc gia thành viên, một
số báo cáo sau đây cho thấy khuynh hướng cũng
như thành quả của WTO ngày càng bị thu hẹp lại.
Vào năm 2003, trong kỳ họp WTO ở Cancun, Ngân hàng Thế
giới (WB) đă đưa ra những số liệu về
thương mại toàn cầu qua dịch vụ trao đổi
trên thế giới là 832 tỷ Mỹ kim, trong lúc đó 539 tỷ
nằm trong các sinh hoạt giữa các quốc gia đang
phát triển. Tuy nhiên, tổng kết năm 2005 cho thấy
lợi ích của WTO giảm xuống c̣n 287 tỷ cho thế
giới, trong đó chỉ c̣n 90 tỷ trao đổi giữa
các quốc gia đang phát triển dù số thành viên của
các quốc gia nầy dự phần vào 90% tổng số
thương mại toàn cầu.
Một khi đă là thành viên
của WTO, Việt
Và sau cùng, mỗi thành viên
tùy theo điều kiện hiện hữu của từng
quốc gia có thể đề nghị mức độ
cam kết ở bốn tầng bậc khác nhau. Đó là: cam
kết toàn bộ, cam kết kèm theo những hạn chế,
không cam kết, và không cam kết v́ không có tính khả thi kỹ
thuật.
Như vậy, trong điều
kiện Viêt
T́nh trạng phát
triển của Việt
Vào ngày 7/11/2006, Việt Nam
đă chính thức được chấp thuận vào Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO), cũng như vào cuối tháng 11/2006 vừa
qua, quốc hội Việt Nam đă chính thức phê chuẩn
các điều luật trên. Và Việt
Vấn đề nơi
đây là cần ghi nhận đứng đắn nội lực
thực tế của VN đứng trước vận hội
mới này, nghĩa là VN trao đổi, xuất cảng ra
thế giới bên ngoài những ǵ? Và ngược lại phải
nhập cảng từ ngoại quốc những sản phẩm
nào? Giải đáp hai câu hỏi trên, chúng ta có thể h́nh
dung được thế mạnh và yếu của VN trong
tương lai. Từ đó, có thể dự phóng được
một viễn ảnh cho đời sống người
dân trong những ngày hậu WTO.
Tính đến ngày hôm nay, VN
đă xuất cảng đi khắp nơi trên thế giới
một số lượng đáng kể về trọng
lượng, nhưng ngược lại thu hồi một
số ngoại tệ không đáng kể so với lượng
hàng bán ra. Đó là nông phẩm, thực phẩm, tôm cá, các mặt
hàng gia công như quần áo, giày da, xẽ gỗ, dầu thô
và một số mặt hàng tiểu thủ công nghệ.
Ngược lại, VN phải
nhập cảng xăng dầu và nguyên vật liệu, máy
móc thiết bị, hóa chất, phân bón, thực phẩm “cao
cấp” như thịt gà, ḅ....., năng lượng, viễn
thông, ngân hàng..... Đây là những mặt hàng nhẹ về
cân lượng nhưng cần phải chi ra một số
lớn ngoại tệ. Do đó, VN luôn luôn đối mặt
với sự thâm thủng ngân sách cho ngoại thương
từ trước đến nay.
Thêm nữa, những mặt
hàng xuất cảng của VN chỉ để giải quyết
cuộc sống của hàng triệu nông dân hay công nhân với
mức lương tối thiểu- trong khi đó cuộc sống
của nông dân và công nhân VN ngày càng tệ hại hơn, mặc
dù VN cố gắng gia tăng mức sản xuất hàng
năm. Lấy thí dụ về ngành may mặc hiện tại.
Một công nhân Việt Nam làm việc 12 giờ/ngày, sáu
ngày/tuần lănh được từ 600 đến 800 ngàn
Đồng VN/tháng, tương đương 37 đến
50 Mỹ kim. Trong lúc đó, một thợ may Việt
Tại thị trường
nội địa, hiện tại VN đang làm chủ v́ lợi
thế sân nhà, và một số ngành nghề c̣n độc
quyền và không cho người ngoại quốc tham dự.
Do đó, mức cạnh tranh chưa hề được
đặt ra, và nếu có, chỉ là những cạnh tranh
giữa những nhà kinh doanh trong nước mà thôi.
Một khi cánh cửa WTO mở toang, VN sẽ
không c̣n lư do nào để cấm đoán ngoại quốc
tham gia trực tiếp vào thị trường nội địa
của VN. Từ đó, mức cạnh tranh sẽ quyết
liệt hơn và chưa chi thua thiệt có thể chắc
chắn về phần doanh thương VN qua sự chênh lệch
về nguồn vốn, kỹ thuật, cung cách khuyến măi,
và thị hiếu của người tiêu dùng VN.
Xin đan cử một thí
dụ điển h́nh qua h́nh thức thương mại
đơn giản nhất là hệ thống “siêu thị”:
Siêu thị Walmart (Hoa Kỳ) có mức doanh thu gấp 5-6 lần
tổng sản lượng của VN, có thể tiêu diệt
các siêu thị nội địa trong cung cách thu mua với
giá rẽ hơn v́ họ có thể chấp nhận không lời,
hoặc lỗ trong thời gian đầu v́ có nhiều tiền
vốn. Thêm nữa, họ có khả năng nhập thực
phẩm và hàng hóa từ ngoại quốc vào- điều
trên đâøy càng nguy hiểm hơn v́ nó có thể giết chết
nhiều dịch vụ chăn nuôi và trồng tỉa của
người dân. Một lợi thế nữa của các
siêu thị ngoại quốc là dịch vụ thanh toán
thường chỉ giải quyết sau
90 ngày nhận hàng, chính
điều này khiến cho những nhà cung cấp VN sẽ
không c̣n khả năng tài chính để trả nợ cho
ngân hàng sau mỗi thời vụ.
Nhà máy
đường Tây Ninh
Trước mắt, chúng ta
thấy rơ những kỹ nghệ của VN liệt kê sau
đây đang đi dần vào chỗ bế tắc:
-
Kỹ
nghệ đường hiện nay hoàn toàn bị phá sản
v́ không cạnh tranh được so với đường
Trung Quốc và Thái Lan có phẩm chất tốt hơn và giá
rẽ hơn. Việc này kéo theo sự bế tắc của
nông dân trồng mía.
-
Xuất
cảng thủy sản và nông phẩm hiện đang bị
nhiều cản ngại do an toàn về thực phẩm
không đủ tiêu chuẩn, do dư lượng kháng sinh và
sự hiện diện của các hóa chất phụ gia trong
thực phẩm. Điều nầy đă bị nhiều
quốc gia trả về lại nguyên xứ trong những
đợt xuất cảng gần đây, nhất là Hoa Kỳ,
khách hàng lớn nhất của Việt
-
Chăn
nuôi gia súc ở VN cũng đang đứng trước
cơn phá sản do kỹ thuật chăn nuôi c̣n nhiều
khiếm khuyết. Từ đó, việc nhập cảng
cánh và đùi gà Mỹ hiện tại là một dịch vụ
đem nhiều lợi nhuận lớn cho một số cán
bộ có quyền. V́ cánh và đùi gà Mỹ giá rất rẽ
$0.2/bls (v́ người Mỹ không thích ăn) , khi nhập
vào VN có thể bán ra $1,5/kg
-
Các
kỹ nghệ đơn giản khác như xe đạp, dụng
cụ làm bếp, trang trí nội thất sẽ không c̣n khả
năng cạnh tranh với hàng TQ nếu chưa nói đến
các nhà sản xuất lớn như ở HK, Pháp, Ư..... Những
mặt hàng rất bắt mắt và được người
VN ưa chuộng từ lâu. Chính tâm lư ưa chuộng hàng
ngoại quốc của người VN sẽ giết chết
công kỹ nghệ VN khi VN gia nhập vào cuộc chơi
chung. Và mặt trái của WTO có thể biến VN thành một
thị trường tiêu thụ của quốc tế
hơn là một thị trường sản xuất.
Một số rào cản VN
đang đối mặt trước ngưỡng cửa
WTO được tiếp tục tŕnh bày sau đây cũng
là những gợi ư mà VN cần lưu tâm. Đó là những
cản ngại của khu vực quốc doanh, ngành ngân hàng,
khả năng vận chuyễn đường biển,
ngành viển thông di động và một số phản ứng
tâm lư của người dân VN trước tiến tŕnh toàn
cầu hóa.
Thách thức trong
khu vực quốc doanh
Một trong nhiều yêu cầu
để VN gia nhập vào WTO là VN phải minh bạch trong
việc kiểm toán chi thu của quốc gia. Do đó, lần
đầu tiên trong lịch sử đảng, CSVN đă đưa
ra bản báo cáo từng phần ngân sách nhà nước
năm 2005. Theo đó, riêng trong lănh vực quốc doanh, 19 tổng
công ty và ngân hàng quốc doanh trên 4.447 quốc doanh toàn quốc,
cho thấy kết quả kiểm toán hoàn toàn đưa
đến thua lỗ và công ty quốc doanh đă làm kinh tế
theo một chính sách “ phi kinh tế”. Sau đây là vài con số
thua lỗ cũa các công ty quốc doanh trong năm 2005: Ngành
dệt may lỗ 328 tỷ Đồng; ngành giấy lỗ
199 tỷ Đồng ; ngành lương thực lỗ 183 tỷ
Đồng (1 tỷ Đồng tương
đương 60.000 Mỹ kim). Tổng số nợ của
16 doanh nghiệp các ngành kễ trên là 47,000 tỷ đồng,
tương đương với 80% tổng tài sản của
các công ty. Do đó, những công ty trên hoàn toàn không c̣n khả
năng thanh toán phần nợ và lỗ lă.
Hiện tại, con số
các công ty quốc doanh biến thành cổ phần hóa (tức
tư nhân hóa) là 3.830. Trong đó vốn nhà nước là 49%,
công nhân viên, cán bộ trong doanh nghiệp đóng góp 26%, và vốn
tư nhân đầu tư ngoài doanh nghiệp 25%. Với tỷ
lệ và thành phần cổ đông như trên, th́ trách nhiệm
hay linh hồn của công ty vẫn là nhà nước hay quốc
doanh mà thôi. Và đối với việc kinh doanh lỗ lă
trên, nhà nước VN lại phải gánh chịu hay “Đất
nước VN” qua hơn 84 triệu dân, phải cật lực
lao động để trả nợ? Và một khi đă
“giải tư” theo cung cách vừa kể, công ty tư
doanh cổ phần sẽ thuộc
về ai? và ai sẽ chịu trách nhiệm? Do đó, qua việc
tư nhân hóa để thỏa măn yêu cầu cũa những
luật định WTO, vô h́nh chung, VN đă biến các công
ty quốc doanh thành một loại công ty đặt dưới
cơ chế bao cấp khác.
Ngoài ra, đừng quên rằng,
đă từ hơn 30 năm qua ở VN, các cơ chế làm
kinh tế bao cấp đă đưa đất nước
vào ngơ cụt. Có thể nói nhận định gần
đây của ông Đào Xuân Sâm, ban nghiên cứu của Thủ
tướng hiện tại, đă nói lên một cách rốt
ráo vấn đề nầy: “ Trong hơn 10 năm qua, song song với vịệc tư doanh
đổi mới và tăng trưởng thành công, khu vực
kinh tế nhà nước trên thực tế đă trở lại
cơ chế cũ tập trung quan liêu - bao cấp, có khác
chăng là trong nền kinh tế thị trường “ bao cấp
hiện vật” chuyển thành “ bao cấp tài chính””. Và
cơ chế bao cấp này cũng chính là mọt h́nh thức
của cơ chế xin –
cho, đă trở thành miếng đất màu mỡ cho nạn
tham nhũng lộng hành trong khu vực nhà nước, từ
đơn vị kinh tế cơ sở đến các cấp
cao nhất của chính quyền”.
Như vậy, VN làm thế
nào và bằng cách nào để thực hiện được
lời T.T Nguyễn tấn Dũng mới vừa tuyên bố
là trong ṿng 5 năm tới, VN bảo đảm cổ phần
hóa 100% doanh nghiệp quốc doanh?
Thách thức trong
ngành ngân hàng
Cũng theo quy định của
WTO, VN phải mở cửa ngân hàng, chấp nhận dịch
vụ ngân hàng ngoại quốc
trong giai đoạn chuyển tiếp (năm năm sau khi
gia nhập) có thể đầu tư tối đa 30% tổng số vốn của ngân hàng. Một
khi VN chính thức vào cuộc, tư nhân nào có thể mua cổ
phần c̣n lại (tức 70%) của một ngân hàng ngoại
quốc, vốn dĩ có nguồn vốn lớn và bằng
hệ thống tiền tệ cứng (hard currency), trong lúc
đó tư nhân, hay tập thể tư nhân VN chỉ có khả
năng đóng góp bằng những số vốn nhỏ và
thế chấp, cũng như chuyển hóa cơ sở vật
chất thành tiền. Từ đó, dù công ty ngoại quốc
không chiếm đa số tuyệt đối, nhưng vẫn
có khả năng khuynh đảo thị trường bằng
những thủ thuật kinh tế tư bản, và VN sẽ
chịu một sức ép không nhỏ về vấn nạn
này.
Theo thống kê mới nhất
(2006), tín dụng của ngân hàng ngoại quốc dành cho Việt
Nam là 14% trên số tổng dư nợ cho vay là 60 ngàn tỷ đồng,
tương đương với 360 tỷ Mỹ kim. Với
sự hiện diện của ngân hàng ngoại quốc, liệu
ngân hàng Việt Nam có học được cung cách quản
lư, cùng những cơ hội phát triển về các mặt
sản phẩm, vế những mô h́nh mới, hay về
năng lực chuyên môn cho nhân sự v.v…không? Chính những yếu
tố nầy sẽ góp phần vào việc hoạt động
lành mạnh của ngân hàng.
Trở lại các Công ty ngân
hàng VN, một trong những lư do các doanh nghiệp quốc
doanh thua lỗ mà vẫn tồn tại cho đến ngày
hôm nay, là việc nhà nước tiếp tục bơm tiền
bù lỗ thông qua các ngân hàng quốc doanh. Hay nói cách khác, các
ngân hàng phải chịu sức ép từ nhà nước, bị
bắt buộc tiếp tục cho công ty quốc doanh vay
căn cứ theo chủ trương chính trị hơn là
căn cứ theo t́nh trạng kinh tế.Và sau cùng, ngân hàng
được nhà nước tái cấp thêm những ngân
khoản bổ sung. Đó là trường hợp của bốn
ngành Ngân hàng Công thương, Ngân hàng ngoại thương,
Ngân hàng Đầu tư & Phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp
& Phát triển. Do đó, việc cổ phần hóa ngân
hàng quốc doanh hoàn toàn bế tắc. Và việc chuyển
doanh nghiệp quốc doanh sang chế độ hoạt
động của một công ty trách nhiệm hữu hạn
là một việc làm không tưởng, ít ra trong những
năm sắp tới v́ những yếu tố sau đây: 1-
Người quản lư ngân hàng hiện tại vẫn c̣n giử
năo trạng càng cải tổ chậm càng có lợi, do
đó, họ cố gắng tŕ hoản công việc nầy;
2- Một khi có cổ phần hóa, “những ông chủ ngân
hàng” sẽ bị chi phối và giám sát do các nhóm lợi ích
khác, do đó, quyền hạn của họ sẽ bị hạn
chế, kéo theo mức thu nhập cá nhân của họ sẽ
bị giảm đi v́ không c̣n khả năng móc ngoặc
hay làm những điều sai trái; 3- Các cấp quản lư
trong đảng sẽ mất hẳn quyền lực một
khi ngân hàng đă được cổ phần hóa toàn phần.
Thách thức về
đầu tư
Một khi đă vào WTO,
điều đó không có nghĩa là thế giới sẽ
tuôn tiền vào đầu tư ở Việt Nam để
cho con tàu Việt Nam vượt đại dương
đi khắp năm châu., dù cho điều kiện phát triển
ở Việt Nam hiện tại vẫn c̣n là điều kiện
tối ưu cho đầu tư ngoại quốc. Lư do là
Việt
WTO sẽ không ảnh hưởng
trực tiếp vào mỗi người Việt một sớm
một chiều được qua mức tăng trưởng
của lợi tức đầu người hàng năm.
Đó chỉ là những con số biểu kiến, nói lên mức
đầu tư của ngoại quốc trong các
chương tŕnh xây dựng hạ tầng cơ sở (nếu
có) như năng lượng, cầu cống, đường
xá, và tất cả các nhu cầu kiến trúc quốc gia cần
thiết cho sự phát triển xă hội.
Do đó, trong những
năm đầu nếu thực sự có mức đầu
tư ồ ạt của thế giới, người dân
chưa ắt hản có được một đời sống
kinh tế khá hơn.
Và, với cung cách làm ăn
hiện tại của Việt Nam trong lĩnh vực đầu
tư, điều cần nhất là phải thay đổi
năo trạng sơ cứng, suy nghĩ mang lợi trước
mắt mà không nh́n hại ở sau lưng (phát triển không
bền vững, không bảo vệ môi trường chẳng
hạn) bằng cung cách làm
ăn thật thà, làm thật, nói thật, và sống thật
với nhau. Làm như thế mới hy vọng gây
được niềm tin cho đối tác đầu
tư ngoại quốc, và họ sẽ dễ chấp nhận
trong điều kiện đôi bên cùng có lợi (win-win
situation).
Một vài thí dụ căn
bản trong tương lai là, trong kỹ nghệ dệt may
chẳng hạn, nếu để nhà đầu tư ngoại
quốc tin tưởng và hợp tác, họ sẽ mang nguồn
vốn, máy móc, công nghệ dây chuyền sản xuất mới
cùng cung cách quản lư mới. Từ đó, mức sản
xuất dĩ nhiên sẽ tăng bội phần và mang theo lợi
nhuận về cho cả hai phía đối tác. Và hơn nữa,
người công nhân lần lần sẽ được cải
thiện trong lao động như làm ít giờ hơn theo
tiêu chuẩn lao động thế giới, có đầy
đủ chương tŕnh bảo hiểm xă hội, và sau
cùng đời sống kinh tế của công nhân sẽ
được nâng cao do mức đăi ngộ của công ty
đă điều chỉnh một khi đă có lời nhiều.
Một điểm quan trọng
cần nêu ra đây là nhu cầu cần đầu tư ngoại
quốc trong lănh vực môi trường.Theo cam kết về
dịch vụ môi trường khi Việt Nam gia nhập vào
WTO là, Việt Nam sau bốn năm, dịch vụ môi trường
có thể có được 100% vốn nước ngoài
được phép hoạt động ở Việt Nam.
Một điều rơ ràng và chắc chắn là lối giải quyết những vấn nạn môi trường hiện tại của Việt Nam chỉ làm tăng thêm nguy cơ ô nhiễm ở cả