Thành Viên WTO Mới Việt
Thách Thức Trong Công Nghệ
Thông Tin
Phát biểu tại Hội Thảo do VAST tổ chức ngày 25/8/2007
tại Santa Ana College, CA
Dẫn
Nhập
Việt Nam
hiện tại đang bước vào một tiến tŕnh
chuyển tiếp hướng về nền kinh tế định
hướng theo thị trường tự do và cố
gắng khai thông cùng cải tiến các mối giao hảo
trên trường quốc tế. Trong quá khứ, Việt Nam
đă cố gắng để đạt được kết
quả trở thành thành viên thứ 150 của Tổ
chức Thương Măi Thế giới (WTO) vào ngày 11 tháng
giêng năm 2007.
Việt Nam
vẫn c̣n đang đứng bên lề của ḍng luân lưu
công nghệ giữa những thành viên ở các quốc gia đă
phát triển và cũng đang cố vươn ḿnh không những
để thích ứng với những luật lệ và tiêu
chuẩn của WTO mà c̣n phải đối mặt với
nhiều thách thức về nhiều vấn đề
của nền công nghệ thông tin trong quốc nội.
Liệu
Việt Nam có thể trở thành “Con hổ Á châu” trong
kỹ nghệ điện tóan giống như Ấn Độ
đă được mệnh danh là “Con voi Châu Á”?
Trên thực
tế, ngay sau được gia nhập vào WTO, Việt Nam đang
nằm trong tiến tŕnh học hỏi để có thể
múa may trong khu rừng công nghệ thông tin.
Các thách
thức của Việt Nam có thể được khai
triển trên nhiều hướng khác nhau, nhưng thách
thức lớn nhứt vẫn là làm thế nào để
giải quyết được những khoảng cách
giữa người dân sống ở thành thị và nông thôn
như: - Giáo dục, - Công ăn việc làm, - Sự phân
phối nguồn kinh tế tư nhân cũng như giảm
thiểu nguồn kinh tế quốc doanh.
Hiệp Ước Chuẩn Công Nghệ
Thông Tin (HƯCNTT)
Lẽ
dĩ nhiên, Việt Nam đă kư kết các hiệp ước
đa phương về Công nghệ Thông tin (CNTT) trong đó
thị trường miễn thuế đối với
tất cả sản phẩm CNTT qua HƯCNTT.
Thêm nữa,
Việt Nam chấp nhận quyền trao đổi thương
măi với tất cả công ty đầu tư ngoại
quốc với một vài biệt lệ. Đặc
biệt hơn nữa, Hiệp Ước Trao Đổi Song
Phương (Bilateral Trade Agreement – BTA) với Hoa Kỳ đă
bắt đầu làm nền móng để thúc đẩy
sự thịnh vượng của Việt Nam trong tương
lai, nhưng cũng là những bước buộc Việt
Nam phải bảo đảm mối giao hảo trong sáng, đặc biệt là quyền
bảo vệ sản phẩm trí tuệ.
Luật
miễn thuế được diễn dịch như
những nguồn lợi và mang đến cho Việt Nam những
lợi thế đáng kể như nguồøn nhập
cảng tự do với mức thuế quan đặc giảm
từ từ và sẽ chấm dứt trong thời hạn
từ năm 2010 đến 2014 tùy theo từng hạng
mục (theo WTO-business-in-asia.com). Thêm nữa, Việt Nam c̣n
có thêm nhiều lợi thế về sự trợ giúp tài
chánh, quỷ chuyển lưu tiền tệ quốc tế,
cập nhật hóa thông tin, sự hợp tác và đầu tư
từ các quốc gia đă phát
triển như Hoa Kỳ, Canada, v.v.. . Thí dụ trong lănh
vực CNTT, đă có dự án Việt Nam-Canada Information
Technology (VCIT) trong năm năm với nguồn vốn 10
triệu Mỹ kim trong mục đính thành lập Chương
tŕnh Quốc gia về CNTT (NPIT).
Kinh Tế Nhanh và Kinh Tế Chậm
Giống như
tất cả các quốc gia được xếp vào
loại Quốc gia Kém Mở mang (Less Developed Countries-LDC) như
Columbia, Paraguay trong đó nền CNTT rất quan trọng
trong việc thiết lập mối bang giao với thế
giới bên ngoài, Việt Nam hiện tại cũng vấp
phải những vần đề tương tự trong
lănh vực CNTT.
Việt Nam,
tệ hại hơn nữa, được kể là
một quốc gia “chậm” trong lănh vực nầy trong đó,
CNTT được xem như là một chuẩn mực để
phân biệt quốc gia “chậm” và “nhanh” so với các
quốc gia mệnh danh là Quốc gia Phát triển Cao – HDC).
Ở các
quốc gia HDC, việc vân hành của vận tốc dữ
liệu và thông tin quyết định sức mạnh và
sự phồn thịnh của một quốc gia. Các
dữ liệu và thông tin trên được xác định
bằng qua vận tốc trao đổi trong các quyết định
về đầu tư, những gợi ư mới, việc
luân lưu nguồn vốn, hệ thống điện toán
và viễn thông hiện đại, rẽ, và có lợi
thế chưa hề có trước đây. Do đó, công
nghệ điện toán “nhanh” chuyển dịch và tạo ra
sức mạnh cũng như sự thịnh vượng
cho quốc gia.
Theo Giáo sư
Seymour Goodman, lá bài chủ chốt cho một quốc gia “nhanh”
là một hệ thống viễn thông hàng đầu để
có khả năng nhạy bén kết nối với thế giới
bên ng̣ai. Ḍng luân lưu thông tin có thể được
diễn dịch qua ḍng tiền tệ trong đầu tư
cũng như mang lại cơ hội cho các ư kiền
mới phát sinh ra sau đó.
Chính Sách Công Nghệ Thông Tin Quôc Gia
của Việt Nam
Chính sách
lần đầu tiên được khởi xướng do
Bộ trưởng Đặng Hữu từ năm 1976 tới
1978 qua Ủy ban Chương tŕnh IT Quốc gia (NITSC). Sau đó,
chương tŕnh nầy được Phan Đ́nh
Diệu, Thứ trưởng, tiếp nối vào năm
1993; và sau cùng Thủ tướng Vơ Văn Kiệt thời
bấy giờ công bố thành luật..
Có hai
mục tiêu căn bản trong bộ luật nầy là: “Trước
hết việc áp dụng các thành tựu tiên tiến
của công nghệ thông tin để nâng cấp tất
cả ngành xă hội-kinh tế của quốc gia. Sau đó,
mục tiêu thứ hai là khai triển ngành trên để trở
thành một bộ phận độc lập cho nến kinh
tế: đó là kỹ nghệ IT.”
Từ suy
nghĩ đó, kế hoạch công nghệ thông tin quốc
gia h́nh thành hai mặt chủ đích: 1- Điện tóan hóa
mọi ngành trong chính quyền, và 2- Công thức hóa khung chính
sách và gợi ư mới để khuyến khích việc áp
dụng công nghệ nầy trong các công ty tư nhân. Tuy nhiên,
trên thực tế, liệu chính quyền Việt Nam có
thể áp dụng khung pháp lư để xây dựng kỹ
nghệ IT hay không? Liệu những nhà đầu tư ngoại
quốc nhận thức được khả năng thu
hồi đầu tư (Return on Investment-ROI) và gợi ư
mới trong việc tài trợ các ngành trong lănh vực
quốc doanh hay trong việc thực hiện cuộc
chuyển hóa điện tóan nầy hay không?
Gần đây
nhứt, Chính sách CNTT quốc gia đă được
quốc hội phê chuẩn một lần nữa vào năm
2006 để tạo dựng một khung pháp lư cho các
quốc doanh. Chính khung nầy thể hiện cung cách
giải quyết những vần nạn như: việc hạn
chế nguồn vốn quốc gia, cũng như sự
thiếu vắng những cơ quan có khả năng
tạo dựng các cơ cấu căn bản như tiêu
chuẩn IT, viễn thông, phần cứng và phần mềm,
nguồn nhân lực trong huấn luyện và giaó dục IT,
và rốt ráo hơn nữa là quyền bảo vệ sở
hữu trí tuệ. Đây mới chính là những thách
thức và cũng là đám mây mù che phủ bầu trời
IT của Việt Nam hiện tại.
Tiêu Chuẩn Công Nghệ Thông Tin
Tiêu
chuẩn IT đối với Việt Nam là điều
tối cần thiết và phải được chính
phủ ḥan ṭan chấp thuận trên căn bản pháp lư
từ trung ương đến chính quyền địa phương.
Từ năm 1993, Tổng Cục Tiêu chuẩn Việt Nam đă
làm một cố gắng kinh khủng để ấn hành
văn bản đầu tiên về Tiêu chuẩn IT quốc
gia và Microsoft Window 95 đă sản xuất ra thảo chương
Việt Nam dựa theo tiêu chuẩn IT TCVN/JTC1/5712:1005 dưới
danh mục trang 1258.
Lănh vực
tiêu chuẩn mang mẫu mă riêng tạo ra một gợi ư
vũng chắc v́ đây là nền pháp lư cho tất cả đặc
tính cho hệ thống ngôn ngữ quốc gia chung dùng để
thống nhứt trong diễn đạt điện tóan.
Hệ
thống thống nhứt là chữ Quốc ngữ không
thể diễn đạt trong 8-kư hiệu (UTF-8), do đó,
có nhiều hệ thống mẫu mă khác nhau đă đă
xuất hiện để diễn đạt tiếng Việt
như Unicode, VPS, VNI, v.v..
Sự
cố gắng trong việc thiết lập tiêu chuẩn IT
cho Việt Nam tuy nhiên vẫn là sáng kiến của chính
quyền và vẫn c̣n nằm trong sự kiểm soát của
nhà nước. Điều nầy cần phải được
bàn cải để tư nhân và người tiêu dùng có
thể tham gia vào ngơ hầu ḥan chỉnh tiêu chuẩn cho
thích hợp với điều kiện Việt Nam dưới
nhiều góc độ khác nhau, chứ không c̣n là độc
quyền của nhà nước như tiêu chuẩn IEEE qua
hệ thống SPA system có thể giúp cho tiến tŕnh
thiết lập tiêu chuan cho Việt Nam hữu hiệu hơn.
Thêm nữa,
sự cố gắng thiết lập tiêu chuẩn IT
cần phải được ḥan thiện hơn nữa
ngơ hầu tạo ra sự tin tưởng và kính trọng
trong việc bảo vệ người tiêu dùng và tăng
thêm uy thế của chính phủ.
Tại
Việt Nam, Chính sách Quốc gia đă được kư vào năm
1993, và gần đây đă được Quốc hội
Việt Nam chuẩn y năm 2006. Theo Ông Trần Đức
Lai, Thứ trưởng Bộ Bưu điện và
Viễn thông, sau 61 năm, đây là mốc thời gian đầu
tiên cho Việt Nam có được một khung pháp lư
về CNTT nầy.
Tuy nhiên,
Việt Nam trong việc thực hiện vẫn vấp
phải vấn đề tổ chức và nguồn tài chính
không hợp lư. Những thách thức cốt lơi như: -
Hệ thống trao đổi liên quốc gia, - Kỹ
nghệ nhu liệu và cương liệu, - Việc cập
nhật hóa và huấn luyện chuyên viện kỹ
thuật, giaó sư, và kỹ thuật viên, - Việt tôn
trọng tuyệt đối Quyền sở hửu trí
tuệ. Đó là các yêu cầu căn bản để có được
một hệ thống hạ từng cơ sở vững
mạnh trong việc thúc đẩy CNTT.
Đối
với Việt Nam hiện tại, chính quyền chỉ có
hệ thống CNTT sơ đẳng áp dụng trong các
tổ chức của chính phủ, ngay cả trong quân đội,
CNTT vẫn c̣n trong t́nh trạng sơ khai. Trong lănh vực tư
nhân, chỉ có một phần nhỏ cơ sở như ngành
hàng không quốc tế, ngân hàng, khách sạn, và kỹ
nghệ dầu hỏa mới được lập đặt
hệ thống điện toán tương đối có
thể đáp ứng được nhu cầu đ̣i hỏi
cho từng dịch vụ.
Ngành Viễn Thông
Việt Nam
có thể được xem như là một quốc gia phát
triển nhanh đến 35% trong quư 4 năm 2006, nhưng các
vùng sâu vùng xa và nông thôn vẫn tiếp tục chịu cảnh
tụt hậu và hầu như không hề có hệ
thống điện thoại cố định. Việt
Nam có 25,5 triệu điện thoại, trên 4 triệu khách đăng
kư điện toán vào năm 2006, và cũng trong năm
nầy, có đến 10 triệu đăng kư điện
thoại mới, tăng 188% so với năm trước đó
(tài liệu VietNam Net Bridge on 29/12/2006). Dịch vụ internet
trở thành thông dụng trong quần chúng với trên 15
triệu người xử dụng theo vào thống kê tháng
5, 2007 chiếm 18,5% tổng dân số Việt Nam. Dịch
vụ nầy được Trung tâm Thông tin Điện
toán Việt Nam (Việt NamNIC) quản lư khởi đầu
từ năm 1998 với trên dưới 10,000 người
xử dụng trong thời gian nầy. Cũng trong khoảng
thời gian trên, chính phủ Việt Nam đă khai triển
các bộ luật ṭan cầu (cyber laws) trong đó có ghi
nhận nhiều điều cần thiết và quan
trọng trong việc truy cập internet để truy t́m
thông tin trên mạng hầu ngăn chặn thông tin có thể
làm nguy hại đến an ninh quốc gia. Cung cách kiểm
duyệt trong thông tin và truyền thanh là hai vấn nạn chính làm tŕ
trệ tiến tŕnh hội nhập của Việt Nam vạ Mạng
lưới ṭan cầu (World Wide Web) đến năm 1996.
Trong lănh
vực quân đội, Cty Việt Nam Military Telecom đă cung
cấp VoID, diện thoaị di động và dịch
vụ mạng lưới điện tóan đến
Cambodia. Từ tháng 11, 2006, Cty Multimedia Corporation cũng đă
cung cấp dịch vụ truyền h́nh kỹ thuật
số di động.
Với
sự trợ giúp của nhà đầu tư ngoại
quốc như Intel, USAID, VDC (Việt Nam Data Communication
Company), một thành viên của Việt Nam Post and Telecom Group
(Việt NamPT) đă thành công và lấp đặt hệ
thống nền WIMAX ở Lao Cai và vùng phụ cận
trực tiếp vào mạng lưới điện tóan và
tiếng nói qua IP (VoIP) xuyên qua dây cáp quang. Qua dịch vụ
nầy, Việt Nam được xếp vào đầu
bảng trong 10 quốc gia có dịch vụ CNTT tăng trưởng
nhanh nhứt ở qúy 4, 2006.
Theo kết ước
của WTO trong lănh vực viễn thông, nguồn vốn đóng
góp cho những cơ sở không cố định như
dịch vụ điện thoại, dịch vụ
chuyển dịch thông tin, dịch vụ máy fax v.v….. . không được
quá 51% vốn chính thức.
Đối
với những dịch vụ cần thiết lập cơ
sở cố định, việc phối hợp đầu
tư trong và ngoài nước trong lănh vực CNTT cũng được
cho phép, nhưng nguồn vốn ngoại quốc không được
quá 49%.
Việt Nam
hiện có tám hệ thống cáp quang đặt dưới
đáy biển, trong đó một hệ thống đang
bị đánh cắp hàng ngàn tấn do dân đánh cá để
đi bán đồng (copper). Hệ thống bị đánh
cắp gồm 11Km của đọan cáp quang nối liền
Việt Nam và Thái Lan. Sự mất mát nầy khiến cho
Việt Nam phải lệ thuốc vạ hệ thống cáp
quang 10Gb/s để nối mạng với Trung Quốc,
Hong Kong và Singapore. Nếu chính phủ Việt Nam tiếp
tục hy vọng đóng vai tṛ chính trong cuộc chơi viễn
thông, họ khó có khả năng hiện diện thường
trực trong thị trường IT hấp dẫn đối
với những nhà đầu tư ngoại quốc.
Tóm lại,
sự giới hạn của giới chủ nhân nội địa
cũng như sự lung túng trong trong việc bảo vệ
và tùy thuộc vào hệ thống cáp quang là hai cản
ngại lớn nhứt trong việc thiếp lập hạ
tầng cơ sở cho công nghệ viễn thông Việt
Nam.
Hệ thống cương liệu
Việc
xử dụng mạng lưới điện tóan ngày hôm
nay đă trở thành phổ cập trong quần chúng trên
thế giới cũng như ở Việt Nam, tuy nhiên,
việc làm chủ một maư diện toán cá nhân, điện
thoại hay máy fax vẫn được xem là thời thượng
ở xứ nầy, v́ hệ thống nối mạng,
viễn thông, và dịch vụ cao tốc trong nối kết
vẫn c̣n nằm trong t́nh trạng phôi thai và không hiệu
quả.
Việt Nam
không thể nào vươn lên hệ thống nối
mạng cao tốc số trừ khi có được hệ
thống điện thoại tối tân, đáng tin cậy được
thiếp lập và kết nối với 64 tỉnh trên ṭan quốc.
Thêm nữa cũng cần phải có thêm máy điện toán cá
nhân, thêm modem hiện đại và hệ thống nhu
liệu phổ cập cho dân chúng xử dụng.
Năm 1998,
Cty General Pacific được h́nh thành dưới danh nghiă
hớp tác hai chiếu giữa Bộ Công nghệ Nặng
của Việt Nam và một Cty Pháp trong việc ráp nối
hệ thống điện toán cá nhân mẩu 286. Nhưng Cty
nầy đă bị giải thể vào năm 1991 và đă
biến thành Cty hàng đầu Bull để nâng cấp và
thành lập cơ sở ráp nối hệ thống điện
toán cá nhân mẩu 386 và 486.
Công ty Intel đang
có dự án xây dựng các chip ở Sá G̣n từ năm 2007,
nhưng vấn đề hôi lộ trở thành phổ thông
cho nên Phó chủ tịch Brian Krzanich phải kư một
kết ước với cơ quan SHTP Việt Nam về đaọ
đức thương maị vào ngaỳ 10 tháng 10, 2006
trong đó ngăn cấm tất cả dịch vụ
hối lộ và tham những dưới mọi h́nh
thức trong hợp đồng trên.
Hệ Thống Nhu Liệu
Trong
việt phát triển nhu liệu, Việt Nam hầu như
không có hệ thống phát triển áp dụng nhu liệu
trong lănh vực xă hội-kinh tế trong nước mà
chỉ chú trọng vào việc áp dụng nhu liệu trong
dịch vụ văn pḥng của chính quyền mà thôi.
Mỗi
Bộ có một số chuyên viên riêng rẽ với những
ư kiến đặc thù áp dụng riêng cho cơ sở thay
v́ t́m một phương hướng áp dụng chung kết nối ṭan thể quốc
gia. Chính đây la một trở ngại lớn làm khó khăn
cho người xử dụng trong hạ tầng cơ
sở ở liên Bộ.
Một thí
dụ cụ thể là hiện tại Việt Nam có 2.500
hảng xưởng có giấy phép hành nghề trong dịch
vụ nhu liệu với 8.000 nhân viện và 20 cơ xưởng
ráp nối máy điện toán cá
nhân theo lới công bố
của Ông Nguyễn Thanh B́nh, Chủ tịch Cty Phát
triển IT và xây dựng dũ liệu.
Do đó, điều
khiếm khuyết chính yếu của Việt Nam là sư
thiếu vắng nguồn vốn đầu tư cho ngành
nhu liệu cho nhu cầu địa phương và hệ
thống chuẩn cho tiếng Việt trong điện
tóan. Hiện tại, Microsoft
cung cấp hệ thống Unicode cho chuẩn tiếng
Việt nhưng Việt Nam không chịu áp dụng chuẩn
nầy trên ṭan quốc mà vẫn
c̣n áp dụng nhiều chuẩn riêng rẽ tạo nên
một t́nh trạng phức tạp trong việc cải
chuyển các chuẩn chữ khác nhau.
Từ các
nhận định trên, Việt Nam đối mặt
với ṿng lẩn quẩn giống như hầu hết các
quốc gia chậm phát triển khác v́ giá cả và nhu
liệu chuẩn c̣n nằm ngoài tầm tay của tuyệt đại
đa số người tiêu dùng. Do đó, hiện tượng
đáng buồn là việc đánh cắp nhu liệu và
việc không tuân thủ quyền sở hữu trí tuệ đă
xảy ra thường xuyên ở Việt Nam. Và đây
cũng chính là một cản ngaị lớn cho uy tín của
Việt Nam trên trường quốc tế.
Thêm nữa,
bên cạnh giá thành cao, hệ thống nhu liệu luôn có khuynh
hướng tăng trưởng và thay đổi nhanh, đ̣i
hỏi việc cải tiến hệ thống cương liệu
để đáp ứng nhu cầu thay đổi nầy.
Do đó Việt Nam khó có khả năng đáp ứng được
như cầu nâng cấp và đầu tư cho hệ
thống nhu liệu cũ vốn đă lỗi thời trước
tiến tŕnh thay đổi quá nhanh trên thế giới.
Huấn Luyện Kỹ Thuật
Việc giáo
dục và huấn luyện IT cần phải được
cân bằng với tất cả bộ phận trong hạ
tầng cơ sở của đất nước. Qua quá
tŕnh lịch sử giáo dục Việt Nam, hầu hết các
giáo sư Việt Nam đều được huấn
luyện ở những đại học Âu châu, do đó có
ít nhiều ảnh hưởng theo hệ phái Âu châu,
nhứt là trong lănh vực toán học. Các nguồn tài nguyên tương
tự cần phải được khám phá thêm nữa để
có thể hấp thụ thêm các nền giaó dục thực
tiển khác trên thế giới cho tầng lớp chuyên gia
ở Việt Nam. Từ đó, lớp chuyên gia nầy có
thể tập trung đóng góp và tạo nên một tầng
lớp ưu tú mới để thực hiện việc
áp dụng IT và huấn luyện nhân sự cho Việt Nam.
Việt Nam
dự tính đào tạo 20.000 chuyên viên IT cho đến năm
2010, trong đó phân nửa là thảo tŕnh viên (programmer) và
một phần tư là chuyên viên phân tích điện tóan
(system analyst). Trong hiện tại, thị trường đặt
áp lực lên việc đào tạo số lượng trên
qua các đaị học tư lập để cung cấp
cơ hội học hỏi kỹ thuật cho sinh viện
so với đại học công lập. Đó là Đại
học Lotus và Van Lang. Đây là hai đại học hai năm
đă được bảo trợ qua một số công ty
ngoại quốc và Việt Nam.
APTECH và
Softech là hai trung tâm huấn luyện kỹ thuật đă đào
tạo khoảng 5.000 cán sự trong ngành thảo chương
(programming), quản lư mạng lưới (network management),
và lưu trử dữ kiện (database) cho chương tŕnh tiếng Việt
và một chương tŕnh tiếng Anh cho ePIT.
Tóm laị,
sự thiếu vắng chương tŕnh giảng dạy IT
ở đại học, sự khiếm khuyết máy điện
toán trong xử dụng và huấn luyện kỹ thuật
cho công nhân viên chức, sinh viên, học sinh đệ
nhị cấp, các trường huấn nghệ và nhứt
là sự thiếu hụt giaó sư diễn giảng vẫn
c̣n là vần nạn căn bản cho sự tiến bộ của
công nghệ thông tin ở Việt Nam.
Việc Bảo Vệ Sản Phẩm Trí
Tuệ
Hiện
tại ở Việt Nam, chi phí dành cho một máy điện
toán và các nhu liệu cần thiết cho cá nhân hay văn pḥng
dịch vụ vẫn c̣n nằm ng̣ai tầm tay của người
dân trung lưu hay các dịch vụ nhỏ. Hệ lụy
từ t́nh trạng trên đưa đến tê trạng vi phạm
luật bản quyền qua việc sao chép các nhu liệu
trên. Điều nầy đă xảy ra ở hầu
hết các quốc gia đang phát triển và tạo ra
một loại văn hóa sao chép bản quyền. Vô h́nh chung
tệ trạng nầy cũng được nhà cầm
quyền chẳng những không lưu tâm đến mà
lại gián tiếp cổ súy, xảy ra ngay trong hầu hết
những cơ quan nhà nước. Điều nầy đă
làm chùn chân các nhà đầu tư ngoại quốc cùng thị
trường chứng khóan. Thêm nữa, Hiệp ước
Thương măi Song phương (BTA) giữa Hoa Kỳ và
Việt Nam, cùng thoả ước Bảo vệ tác
quyền và sản phẩm trí tuệ (TRIPS) giữa Việt
Nam và WTO cũng đă bị vi
phạm trầm trọng.
Đề Nghị
Kết
quả thực tiển của việc gia nhập vạ WTO là
Việt Nam đă mang lại hai thắng lợi to lớn là
việc hội nhập vào hệ thống tài chính thế
giới và tiếp thu được một nền công
nghệ tiên triến. Từ đó, Việt Nam cần
phải huy động nguồn vốn quốc gia, từ
các tổ chức quốc tế, và tổ chức đầu
tư tư nhân để thúc đẩy nền công nghệ
thông tin trong những dịch vụ căn bản sau đây:
-
H́nh thành
một khung chuẩn quốc gia về IT để
thống nhứt ngôn ngữ điện tóan, thủ tục
và tiêu chuẩn kỹ thuật;
-
Khai
triển hạ tầng cơ sở IT cho hệ thống
luân lưu (nerworking), điện thoại cố định,
và các vệ tinh để tránh t́nh trạng lệ thuộc vào
các quốc gia bạn;
-
Tạo
dựng một hệ thống chuẩn mực về nhu
liệu để thỏa mản
nhu cầu trong nước cho trung ương và địa
phương;
-
Khai
triển các nhu liệu áp dụng cho việc giảng
dạy và huấn luyện kỹ thuật cùng việc áp
dụng trong nông nghiệp;
-
Vận động
và cổ súy việc áp dụng máy điện toán trong các
bộ, cơ quan nhà nước và địa phương;
-
Cung cấp
thông tin cập nhựt về huấn luyện cho giáo sư,
giáo viên, sinh viên, nhân viên các trường huấn nghệ, và
công nhân viên chức nhà nước;
-
Tạo
dựng cơ hợi thăng tiến cho nhân tài hay đ̣an
thể trong công nghệ thông tin;
-
Gởi nhân
viên, giaó sư, sinh viên giỏi ra nước ngoài tu nghiệp;
-
Khuyến
khích chuyên viên Việt Nam và ngoại quốc ở hải ngoại,
cùng các công ty quốc tế đầu tư cho dịch
vụ IT và huấn luyện chuyên môn;
-
Hợp tác
quốc tế trong nghiên cứu và phát triển IT;
-
Tạo
dựng một khung chính sách để giản dị hóa
thủ tục thông tin và giao lưu với các quốc gia đă
phát triển;
-
Khai
triển dịch vụ mẫu để cung cấp
dịch vụ cho cộng đồng;
-
Thực thi
cứng rắn quyền sở hữu trí tuệ và
khuyến khích sự lưu tâm trong quần chúng về
việc bảo vệ tác quyền nhu liệu.
-
Tăng cường
sự đảm bảo và sự nhạy bén trong thương
trường quốc tế của nhà cầm quyền
Việt Nam.
Kết Luận
Tóm lại,
Việt Nam cần phải thay đổi một số
chính sách quốc gia chính yếu trong nhiều lănh vực
nhằm mục đích đẩy mạnh:
-
Tự do hóa
thương măi để cho các công ty Việt Nam có khả năng
tăng trưởng và cạnh tranh trong khi tiếp cận
với thị trường kỹ nghệ trong nước
và quốc tế ngơ hầu tiếp thu thêm thị trường
mới cho công nghệ thông tin;
-
Các luật
lệ và quy định cần phải thông thoáng và xuyên suốt;
-
Thủ
tục hành chánh cần phải giản dị hoá, xoá bỏ
hẳn thủ tục “xin-cho” của chính quyền trung ương
và địa phương để thúc đẩy tiến
tŕnh hội nhập nhanh hơn;
-
Đẩy
mạnh công cuộc tư nhân hoá để tạo dựng
thêm công ăn việc làm cho ngựi dân cũng như
giảm thiểu giá thành và phục vụ khách hàng hữu
hiệu hơn;
-
Quan trong
nhứt là công cuộc cách mạng IT có thể thu hẹp lại
hố ngăn cách giữa hai tầng lớp dân chúng thành
thị và nông thôn.
Việt Nam
sẽ trở thành Cọp Á Châu về công nghệ thông tin
nếu chính quyền Việt Nam ghi nhận những thách
thức và đề nghị đă nêu trên đây trong công
cuộc canh tân kinh tế quốc gia. Dân tộc Việt Nam
có truyền thống quyết tâm học hỏi qua biết
bao nhiêu bằng cớ hiển nhiên của sinh viên Việt
Nam trong các cuộc tranh tài về học thuật quốc
tế, cũng như đă chứng minh được
sự thông minh và lưu tâm trong lănh vực điện tóan.
Thêm nữa,
Việt Nam có nhiều khả năng cho việc tăng trưởng
ngành IT với giá thành thấp song hành với những
thuận lợi qua việc gia nhập vào Hiệp hội các
Quốc gia Đông Nam Á châu (ASEAN), sự b́nh thường
hóa Mỹ-Việt từ tháng 7, 1995, và nhứt là sự
hiện diện của khối 3 triệu người
Việt sống răi rác khắp nơi trên thế
giới. Trong số vừa
kể trên, có trên 300.000 chuyên viên, khoa học gia đủ
mọi ngành nghề, có đầy đủ kiến
thức trong mọi lănh vực hầu có thể vực dậy
nền kinh tế hiện tại của Việt Nam.
Muốn
thực hiện những lợi điểm vừa kể
trên, việc làm căn bản và thiết thực nhứt của
Việt Nam là phải thay đổi ḥan ṭan cung cách quản
lư không hiệu quả hiện tại cùng xoá bỏ suy
nghĩ lấy chủ thuyết Mac Lê nin làm chuẩn đạo.
Có được như vậy, mới hy vọng Việt
Nam sẽ trở thành Cọp Á Châu của vùng Đông Nam Á vậy.
Lê Ngọc Điệp
VAST
– 8, 2006